TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 02/2025/HS-ST Ngày: 14-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Diệp Văn Vĩ.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thanh Thuận, Ông Giáp Văn Phẩm.
- - Thư ký phiên tòa: Bà La Thị Xuân, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Thành Đạt, Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 04/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 03/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Hoàng Ngọc B; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh năm 1996 tại huyện L, tỉnh Bắc Giang; Trú quán: Thôn X, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Dân tộc: Nùng; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Lớp 09/12; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; Bố đẻ: Hoàng Văn M sinh năm 1971; Mẹ đẻ: Đàm Thị L, sinh năm 1970; Vợ, con: Chưa có; Anh, chị em ruột: Có 04 anh chị em, bị can là con thứ hai; Tiền sự: Không.
Tiền án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 40/2022/HSST ngày 23/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang xử phạt Hoàng Ngọc B 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, được miễn án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 15/12/2022 B chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương. Tính đến thời điểm phạm tội này B chưa được xóa án tích.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/11/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt tại phiên toà).
* Bị hại:
- Anh Vũ Tiến T, sinh năm 1992 (vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường C, thị xã C, tỉnh Bắc Giang. - Anh Lục Văn T1, sinh năm 1983 (có mặt xét xử, vắng mặt khi tuyên án).
Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Bà Mã Thị V, sinh năm 1967 (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Anh Diệp Văn T2, sinh năm 1990 (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn T, xã N, thị xã C, tỉnh Bắc Giang. - Anh Nguyễn Thọ H, sinh năm 1987 (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn B, xã N, thị xã C, tỉnh Bắc Giang.
* Người làm chứng: Chị Lê Thị L1, sinh năm 1988 (vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường C, thị xã C, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hoàng Ngọc B, sinh năm 1996, trú tại thôn X, xã T, huyện L là người đã bị kết án về tội Trộm cắp tài sản nhưng chưa được xóa án tích. Trong các ngày 22/9/2024, 16/11/2024 và 22/11/2024 B đã 03 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Khoảng 13 giờ ngày 22/9/2024 B đi bộ một mình đến khu vực tổ dân phố T, thị trấn C, huyện L (nay là TDP T, phường C, thị xã C), mục đích tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Trên đường đi, B nhặt 01 balo bằng vải màu đen ở rìa đường mục đích đựng tài sản trộm cắp. B quan sát thấy khu vực chuồng gà được quây bằng lưới sắt B40 ở phía sau ngôi nhà của anh Vũ Tiến T, sinh năm 1992, trú tại TDP T, thị trấn C, huyện L (nay là TDP T, phường C, thị xã C) có 01 con gà trống ở trong chuồng. B đi vào bắt con gà trên cho vào balo thì bị chị Lê Thị L1, sinh năm 1988 (là vợ anh T) phát hiện, hô hoán gọi anh T. B ôm gà và bỏ chạy đến nhà văn hóa T4, thị trấn C, huyện L (nay là TDP T, phường C, thị xã C) thì anh T đuổi kịp, B bỏ lại con gà và tiếp tục bỏ chạy. Ngày 27/11/2024 anh Vũ Tiến T đã có đơn trình báo Công an huyện L và giao nộp 01 con gà tre loại gà trống, màu lông đen trắng, có trọng lượng 1,22kg.
Lần thứ hai: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 16/11/2024 B đi bộ đến khu vực ngã tư truyền hình thị trấn C, huyện L (nay là tổ dân phố T, phường C, thị xã C) thì gặp người đàn ông tên T3, nhà ở xã K, huyện L (nay là thị xã C) B quen biết từ trước, nhưng không rõ lai lịch và địa chỉ cụ thể. B rủ T3 đến lán của gia đình anh Lục Văn T1, sinh năm 1983, trú tại thôn X, xã T, huyện L tìm tài sản trộm cắp. T3 đồng ý và điều khiển xe mô tô chở B đi lên xã T. Khi còn cách vườn nhà anh T1 khoảng 01km thì T3 đỗ xe để ở rìa đường rồi cùng B đi bộ vào trong vườn nhà anh T1. Khi đến sân lán, T3 nhặt 01 thanh sắt dài khoảng 30cm đưa cho B để cậy phá cửa. B sử dụng thanh sắt cậy phá được khóa cửa lán rồi cùng T3 đi vào bên trong lán lục tìm và lấy đi 01 bộ máy phun thuốc trừ sâu gồm 01 mô tơ điện và đầu máy đẩy được gắn trên khung sắt, có hai dây cu loa nối với nhau; 01 chiếc Lioa nhãn hiệu LITANDA, màu xanh; 01 chiếc nồi gang có vung. T3 và B cùng nhau bê bộ máy phun thuốc sâu ra vị trí dựng xe mô tô, sau đó quay lại lán. Tại đây B nhặt 01 chiếc bao dứa ở sân rồi cho chiếc Lioa vào trong bao, còn T3 cầm chiếc nồi gang ra vị trí xe mô tô. Sau đó T3 điều khiển xe mô tô kèm B đem số tài sản trên đến cửa hàng thu mua phế liệu của chị Mã Thị V, sinh năm 1967 trú tại thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang bán chiếc nồi gang được 100.000 đồng. Sau đó, T3 tiếp tục điều khiển xe đi đến cửa hàng sửa chữa của anh Diệp Văn T2, sinh năm 1990, trú tại thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang bán 01 bộ máy phun thuốc sâu được 900.000 đồng; còn chiếc Lioa Bảo và T3 bán cho một người phụ nữ không quen biết được 400.000 đồng. Số tiền bán tài sản trộm cắp được 1.400.000 đồng, T3 và B chia nhau mỗi người 700.000 đồng, cả hai đã sử dụng tiêu xài cá nhân hết.
Lần thứ ba: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 22/11/2024 B và T3 (là người cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 16/11/2024) gặp nhau tại khu vực ngã tư truyền hình thị trấn C, huyện L (nay là Phường C, thị xã C). Tại đây cả hai rủ nhau đi đến lán nhà anh Lục Văn T1 để tiếp tục trộm cắp tài sản. Sau đó, T3 điều khiển xe mô tô kèm B đi đến lán nhà anh T1, B lấy 01 chiếc kìm ở dưới gầm giường cắt lốc màu đen ở phía sau tủ lạnh cho vào bao tải dứa rồi cùng T3 tháo khung nhôm của tủ quần áo. Sau đó T3 điều khiển xe mô tô chở B đem theo số tài sản trộm trên đến cửa hàng thu mua phế liệu của chị Mã Thị V, sinh năm 1967, trú tại thôn C, xã T, huyện L bán lốc tủ lạnh được 90.000 đồng, khung nhôm tủ quần áo bán được 60.000 đồng. Số tiền trên cả hai đã cùng nhau tiêu xài cá nhân hết.
Ngày 25/11/2024 anh Lục Văn T1 phát hiện mất tài sản đã có đơn trình báo gửi Công an xã T. Ngày 27/11/2024 Công an xã T chuyển hồ sơ đến Công an huyện L để giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 26/11/2024 Hoàng Ngọc B đã đến Công an xã T đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của bản thân. Cùng ngày, bà Mã Thị V giao nộp 01 lốc máy tủ lạnh màu đen được sản xuất tại Thái Lan có nhãn hiệu KULTHORN hiệu điện thế từ 220-240V tần số khoảng 50Hz; Anh Diệp Văn T2 giao nộp 01 bộ máy phun thuốc sâu (gồm phần mô tơ điện nhãn hiệu công ty TNHH B1 và phần đầu máy đẩy nén nhãn hiệu Fanton 1HPFT 48) được cố định trên giá khung bằng sắt phần mô tơ với máy đẩy bằng 02 dây cu loa loại A40 cũ.
Ngày 27/11/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành cho Hoàng Ngọc B xác định hiện trường nơi đã trộm cắp số tài sản nêu trên. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành cho Hoàng Ngọc B nhận dạng con gà B đã trộm cắp tại gia đình anh Vũ Tiến T. Kết quả B nhận dạng ra đúng con gà đã trộm cắp của gia đình anh T.
Tại kết luận định giá tài sản số 132/KL-HĐĐGTS ngày 03/12/2024 và số 128/KL-HĐĐGTS ngày 29/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: “01 (một) bộ máy phun thuốc sâu được sản xuất, lắp ráp tại Việt Nam (gồm phần mô tơ điện công suất 2,2 Kw, nhãn hiệu của công ty TNHH B1 và phần máy đẩy nén nhãn hiệu Fanton 1HP FT48-do Trung Quốc sản xuất), được đặt, cố định trên giá khung bằng sắt, phần mô tơ nối phần máy đẩy nén bằng dây cu roa loại A-40 có giá trị 650.000 đồng (sáu trăm năm mươi nghìn đồng); 01 (một) chiếc ổn áp Lioa, nhãn hiệu LITANDA, màu xanh, loại 5KVA có giá trị 400.000đồng (bốn trăm nghìn đồng); 01 (một) chiếc nồi và vung bằng gang, loại nồi vung 20 có giá trị 40.000đồng (bốn mươi nghìn đồng); 01 (một) chiếc lốc máy làm lạnh nhãn hiệu KULTHORN AZA 1340 YK, sản xuất tại Thái Lan (chiếc lốc làm lạnh trên được gắn ở tủ lạnh, nhãn hiệu SANYO, kiểu máy SR- 11(MS) - được sản xuất, lắp ráp tại Việt Nam có giá trị 400.000đồng (bốn trăm nghìn đồng); 01 (một) chiếc tủ đựng quần áo kích thước (1,2x2x0,4)m, loại hai cánh, có khung bằng nhôm, phần vỏ bằng nhựa giả gỗ, sản xuất tại Việt Nam có giá trị 700.000đồng (bảy trăm nghìn đồng) và 01 (một) con gà trống loại gà tre, màu lông đen trắng, cân nặng 1,22kg con gà nuôi khoảng 48 tháng tuổi, tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 22/9/2024 giá trị tài sản là 150.000 đồng.
Cơ quan điều tra tiến hành xác minh trên địa bàn xã K, huyện L (nay là thị xã C) có đối tượng Lành Văn T3, sinh năm 1987, trú tại thôn P, xã K, huyện L (nay là thị xã C) là đối tượng nghiện ma túy, có dấu hiệu trộm cắp tài sản. Tiến hành cho B nhận dạng Lành Văn T3 qua ảnh nhưng B không nhận dạng được. Do đó cơ quan điều tra không có cơ sở để xử lý.
Đối với chiếc nồi gang, vung nồi và khung nhôm tủ quần áo do Hoàng Ngọc B trộm cắp mang đến bán cho bà Mã Thị V, sau khi mua số tài sản trên bà V đã bán lại cho người khác nên không thu hồi được. Kết quả điều tra xác định khi mua tài sản thì bà V và anh Diệp Văn T2 đều không biết là tài sản do phạm tội mà có nên cơ quan điều tra không xem xét xử lý là có căn cứ.
Đối với người phụ nữ mua chiếc Lioa, B khai không quan biết tên tuổi địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra có căn cứ để xác minh làm rõ và không thu hồi được tài sản này.
Quá trình thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, B đã cậy, phá làm cong vênh chốt cửa lán của gia đình anh Lục Văn T1, nhưng giá trị không lớn, anh T1 không đề nghị gì. Do đó, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.
Về vật chứng vụ án: Ngày 11/12/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh Vũ Tiến T 01 con gà tre loại gà trống màu đen trắng nặng 1,22kg; trả cho anh Lục Văn T1 01 bộ máy phun thuốc sâu do Việt Nam sản xuất (gồm phần mô tơ điện và đầu đẩy máy nén nhãn hiệu Bảo Long) và 01 chiếc lốc tủ lạnh nhãn hiệu Sanyo do Thái Lan sản xuất.
Về trách nhiệm dân sự: Anh T đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu đề nghị gì; Anh Lục Văn T1 yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 1.140.000 đồng là giá trị tài sản chiếc Lioa, khung nhôm quần áo và 01 nồi gang (gồm cả vung); Anh Diệp Văn T2 yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 900.000 đồng là tiền anh đã trả cho bị cáo để mua bộ máy phun thuốc trừ sâu; Bà Mã Thị V không yêu cầu bị can phải bồi thường gì.
* Từ những nội dung nêu trên, bản Cáo trạng số 12/CT-VKS ngày 16 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Hoàng Ngọc B về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Ngọc B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã truy tố. Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của những người vắng mặt. Bị cáo, bị hại không có ý kiến gì về lời khai của những người này.
Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang vẫn giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Hoàng Ngọc B, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Hoàng Ngọc B từ 12 tháng 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 27/11/2024). Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- - Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Hoàng Ngọc B phải bồi thường cho anh Lục Văn T1 số tiền 1.140.000 đồng (Một triệu một trăm bốn nươi nghìn đồng) và anh Diệp Văn T2 số tiền 900.000đồng (chín trăm nghìn đồng).
- - Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm cho bị cáo.
- - Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, bị hại không tranh luận gì đối với đại diện Viện kiểm sát.
Thực hiện lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng. Hội đồng xét xử thấy trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai thể hiện quan điểm của những người này, bị cáo và bị hại đều không có ý kiến gì về sự vắng mặt đó, sự vắng mặt này không gây ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ vào Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người này.
- [3] Tại phiên toà bị cáo Hoàng Ngọc B đã khai nhận hành vi phạm tội của bản thân là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, phù hợp với lời khai của người tham gia tố tụng khác, kết luận định giá tài sản, biên bản xác định hiện trường cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Hoàng Ngọc B, sinh năm 1996, trú tại thôn X, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang là người đã bị kết án về tội Trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích. Ngày 22/9/2024, B đã trộm cắp 01 con gà trống loại gà tre, trị giá 150.000 đồng của gia đình anh Vũ Tiến T ở tổ dân phố T, thị trấn C, huyện L (nay là TDP T, phường C, thị xã C); ngày 16/11/2024 B trộm cắp tài sản của gia đình anh Lục Văn T1 ở thôn C, xã T, huyện L tổng trị giá 1.090.000 đồng; ngày 22/11/2024 B tiếp tục trộm cắp tài sản của gia đình anh Lục Văn T1 tổng trị giá 1.100.000 đồng. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định, bị cáo Hoàng Ngọc B phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Vì vậy, bản cáo trạng số 12/CT-VKS ngày 16/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên toà là có căn cứ, đúng pháp luật.
- [4] Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Quyền sở hữu tài sản của mọi công dân được pháp luật công nhận và bảo vệ. Tại thời điểm phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực, trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Bị cáo đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, nhưng bản chất lười lao động, thích hưởng thụ, không tu dưỡng rèn luyện đạo đức của mình mà tiếp tục lợi dụng sự sơ hở và mất cảnh giác của người khác để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây bức xúc cho nhân dân và ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra.
- [5] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:
Tiền án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 40/2022/HSST ngày 23/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang xử phạt Hoàng Ngọc B 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, được miễn án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 15/12/2022 B chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương. Tính đến thời điểm phạm tội này B chưa được xóa án tích. - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Mặc dù các lần thực hiện hành vi phạm tội dưới mức định lượng tối thiểu để định tội nhưng Hoàng Ngọc B đã có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” nên mỗi lần trộm cắp đã cấu thành tội phạm độc lập. Do đó phải áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội 2 lần trở lên” đối với Hoàng Ngọc B như đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ, chấp nhận.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đã ra đầu thú nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa nhưng phải áp dụng Điều 38 Bộ luật hình sự cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo học tập, cải tạo thành công dân tốt sống có ích cho gia đình và xã hội.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đề nghị xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo là người coi thường pháp luật, nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội gây bức xúc, lo lắng trong quần chúng nhân dân và ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do đó mức đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, phù hợp với quy định của pháp luật nên có căn cứ chấp nhận. - [6] Về trách nhiệm dân sự: Anh T đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu đề nghị gì; Anh Lục Văn T1 yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 1.140.000 đồng là giá trị tài sản chiếc Lioa, khung nhôm quần áo và 01 nồi gang (gồm cả vung); Anh Diệp Văn T2 yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 900.000 đồng là tiền anh đã trả cho bị cáo để mua bộ máy phun thuốc trừ sâu. Tại phiên toà bị cáo, bị hại tự thoả thuận được với nhau, xét thấy việc tự nguyện này là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử xem xét ghi nhận.
Riêng bà Mã Thị V không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. - [7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung bị cáo, như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ chấp nhận.
- [8] Về vật chứng của vụ án: Ngày 11/12/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh Vũ Tiến T 01 con gà tre loại gà trống màu đen trắng nặng 1,22kg; trả cho anh Lục Văn T1 01 bộ máy phun thuốc sâu do Việt Nam sản xuất (gồm phần mô tơ điện và đầu đẩy máy nén nhãn hiệu Bảo Long) và 01 chiếc lốc tủ lạnh nhãn hiệu Sanyo do Thái Lan sản xuất. Bị hại đã nhận lại tài sản không có yêu cầu đề nghị gì, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- [9] Những vấn đề khác trong vụ án: Đối với người đàn ông tên T3 đã cùng bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp, quá trình điều tra bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều không biết tên tuổi, địa chỉ của người đàn ông đó, không nhận dạng được qua bản ảnh. Hội đồng xét xử đề nghị cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ nếu có căn cứ giải quyết theo quy định của pháp luật.
- [10] Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống trong vùng kinh tế xã hội khó khăn nên miễn án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm cho Hoàng Ngọc B.
- [11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; 48 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; các Điều 136; 260; 268; 269; 292; 299; 331; 332 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; các Điều 584; 585; 589 Bộ luật dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- - Xử phạt Hoàng Ngọc B 12 (mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (27/11/2024).
- - Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
- - Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Hoàng Ngọc B phải bồi thường cho anh Lục Văn T1 số tiền 1.140.000 đồng (Một triệu một trăm bốn nươi nghìn đồng) và anh Diệp Văn T2 số tiền 900.000đồng (chín trăm nghìn đồng).
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi xuất được quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng và thời gian chậm thi hành án. - - Xử lý vật chứng: Không.
- - Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Hoàng Ngọc B được miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên toà phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết công khai.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Diệp Văn Vĩ |
Bản án số 02/2025/HS-ST ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 02/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Ngọc B - TCTS
