Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUYÊN HÓA

TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2025/HS-ST

Ngày: 11-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • + Ông Mai Xuân Minh, Phó phòng Giáo dục huyện Tuyên Hóa;
  • + Bà Trần Thị Phúc Tuệ, nguyên là cán bộ Phòng Giáo dục huyện Tuyên Hóa;

- Thư ký phiên toà: Ông Dương Đức Hải, Thư ký Tòa án nhân dân huyện huyên Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Đinh Kiên Quyết - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 57/2024/HSST ngày 30 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:

Cao Lê H (tên gọi khác: Không), sinh ngày 15/01/1988, tại huyện M, tỉnh Quảng Bình.

Nơi cư trú: Thôn C K, xã M, huyện M, tỉnh Quảng Bình; trình độ văn hóa: Lớp 11/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Cao Ngọc H1 và bà Cao Thị K; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú và T hoãn xuất cảnh kể từ ngày 11/11/2024 cho đến nay, theo Giấy triệu tập có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

  • + Nguyễn Mỹ N, sinh ngày 25 tháng 11 năm 2011; nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Tiểu khu D, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
  • + Đào Thảo M, sinh ngày 25 tháng 9 năm 2010; nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Tiểu khu Đ, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại Nguyễn Mỹ N và Đào Thảo M: Ông Hoàng Khắc C1, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp viên pháp lý nhà nước tỉnh Q, có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại:

  • + Bà Lê Thị M1, sinh năm 1984 (Mẹ đẻ của bị hại Nguyễn Mỹ N), địa chỉ: Tiểu khu D, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
  • + Bà Hoàng Thị H2, sinh năm 1984 (Mẹ đẻ của bị hại Đào Thảo M), địa chỉ: Tiểu khu Đ, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Tiến Đ, sinh năm 2006; địa chỉ: Tiểu khu D, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.

- Người làm chứng:

  • + Cao Thị Lan H3, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn B, xã M, huyện M, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
  • + Cao Thị Bích L, sinh năm 1973; địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
  • + Nguyễn Thị Linh N1, sinh năm 2005; địa chỉ: Thôn L, xã M, huyện T, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 19 giờ 34 phút, ngày 25/8/2024, Cao Lê H, điều khiển xe ô tô nhãn hiệu CHEVROLET, biển kiểm soát 73A - 175.99, chạy theo đường Quốc lộ 12A hướng thị trấn Đ đi thị xã B. Khi đến Km 47+850 thuộc địa phận thôn T, xã S, huyện T, tỉnh Quảng Bình, Cao Lê H điều khiển xe chuyển sang phần đường bên trái theo chiều đi để vượt một chiếc xe máy cày tự chế đi phía trước thì va chạm với xe gắn máy nhãn hiệu VIET THAI, biển kiểm soát 73AC-018.88, do Nguyễn Mỹ N điều khiển, chở theo Đào Thảo M chạy hướng ngược chiều gây ra tai nạn.

Hậu quả: Nguyễn Mỹ N và Đào Thảo M bị thương, được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện, xe ô tô và xe gắn máy bị hư hỏng.

* Kết quả khám nghiệm hiện trường:

- Hiện trường chung: Hiện trường xảy ra vụ tai nạn giao thông tại Km 47+850 Quốc lộ A, thuộc địa phận thôn T, xã S, huyện T, tỉnh Quảng Bình là đoạn đường thẳng, bằng phẳng và được rải thảm nhựa, rộng 7,2m, ở giữa có vạch kẻ sơn màu vàng, đứt quãng, chia đường thành hai phần, phần đường bên trái rộng 3,6m, phần đường bên phải rộng 3,6m.

Tiến hành khám nghiệm hiện trường theo phương pháp cuốn chiếu theo hướng Đ đến T (hướng B đi Đồng Lê). Các số đo thống nhất là m, đo đến lề đường bên trái theo chiều hướng Ba Đồn đến Đ (gọi là mép đường chuẩn - ký hiệu là ĐC). Lấy cột điện ký hiệu C270 nằm trên lề đường bên phải theo chiều hướng khám nghiệm làm mốc cố định.

- Hiện trường chi tiết:

  • + Vị trị số 1: Được xác định là vị trí xe gắn máy Biển kiểm soát: 73AC-018.88, sau tai nạn xe gắn máy ngã nghiêng bên phải, đầu xe quay hướng Đông Nam, đuôi xe hướng T. T1 trục bánh trước đo đến điểm mốc là là 9,7m, đo thẳng đến ĐC là 3,4m, tâm trục bánh sau cách ĐC là 2,8m.
  • + Vị trí số 2: Được xác định là vết cà trượt đứt quãng nằm trên mặt đường nhựa có chiều hướng T đến Đ. Điểm cuối dấu vết nằm về hướng T so với tâm trục bánh trước xe gắn máy là 0,05m, cách ĐC là 3,3m; điểm đầu dấu vết cà trượt cách ĐC là 3,7m, vết cà trượt đứt quãng có kích thước 3,1m x 0,05m.
  • + Vị trí số 3: Được xác định là đám máu nằm trên mặt đường nhựa có kích thước (0,8 x 0,3)m, tâm đám máu cách tâm trục bánh trước xe gắn máy là 2,5m, cách ĐC 3,2m.
  • + Vị trí số 4: Được xác định là xe ô tô biển kiểm soát 73AC-175.99, đầu xe quay hướng Đông Nam, đuôi xe hướng T, trục trước bên phải cách trục trước xe gắn máy là 1,7m. Trục trước và sau bên phải của xe ô tô lần lượt cách ĐC là 4,6m và 4,55m.
  • + Vị trí số 5: Được xác định là đám mảnh vỡ nằm trên mặt đường nhựa có kích thước (2,5 x 0,5)m, tâm đám mảnh vỡ cách ĐC là 4,2m và cách trục sau bên phải xe ô tô là 1,6m.

* Kết quả khám nghiệm phương tiện và giám định dấu vết va chạm:

Tại bản Kết luận giám định số: 1002/KL-KTHS, ngày 13/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q, kết luận: Các dấu vết phù hợp với tình huống góc trước bên phải đầu xe ô tô biển số 73A-175.99 va chạm với phần trước xe gắn máy biển số 73AC-018.88 theo hướng từ trước ra sau so với trục dọc của xe gắn máy biển số 73AC-018.88.

* Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 152/KLTTCT-TTGĐYK-PY, ngày 28/10/2024 của Trung tâm giám định Y khoa Pháp y tỉnh Q, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đào Thảo M tại thời điểm giám định là 15%.

* Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 154/KLTTCT-TTGĐYK-PY, ngày 28/10/2024 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh Q, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Mỹ N tại thời điểm giám định là 77%.

Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Mỹ N và Đào Thảo M là: 92%.

* Tại bản kết luận định giá tài sản số: 28/KL-HĐĐG, ngày 26/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng huyện T kết luận:

  • - 01 xe ô tô nhãn hiệu: CHEVROLET; số loại: AVEO; màu sơn: Đỏ; Biển kiểm soát: 73A-175.99; số khung: 69YDEH919563; số máy: 5S3133240030; xe bị hư hỏng do tai nạn giao thông, có giá trị phần hư hỏng là 21.230.000 đồng.
  • - 01 xe gắn máy nhãn hiệu: VIET THAI; số loại: SIRUS; màu sơn: Xanh - Bạc; Biển kiểm soát: 73AC-018.88; số khung: RMNSCBCN4MH007043; số máy: VHL139FMBVTC007043; tình trạng đã qua sử dụng; xe bị hư hỏng do tai nạn giao thông, có giá trị phần hư hỏng là 7.787.000 đồng.

Tổng tài sản cần định giá tại thời điểm xảy ra vụ tai nạn ngày 25/8/2024 có giá trị: 29.017.000 đồng.

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

  • - 01 xe ô tô nhãn hiệu: CHEVROLET; số loại: AVEO; màu sơn: Đỏ; Biển kiểm soát: 73A-175.99; số khung: 69YDEH919563; số máy: 5S3133240030, tình trạng xe đã qua sử dụng.
  • - 01 giấy phép lái xe hạng C, số: [...], mang tên Cao Lê H, do Sở Giao thông vận tải tỉnh Q cấp ngày: 08/5/2020.
  • - 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 0442B7, của xe ô tô Biển biển soát 73A-175.99, do Phòng CSGT Công an tỉnh Q cấp ngày 20/8/2020.
  • - 01 giấy chứng nhận kiểm định số: 5945764, của xe ô tô Biển kiểm soát 73A-175.99.
  • - 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe ô tô số: 6544862; của xe ô tô Biển kiểm soát 73A-175.99.
  • - 01 xe gắn máy nhãn hiệu: VIET THAI; số loại: SIRUS; màu sơn: Xanh - Bạc; Biển kiểm soát: 73AC-018.88; số khung: RMNSCBCN4MH007043; số máy: VHL139FMBVTC007043; tình trạng đã qua sử dụng.
  • - 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy, số: 004106, của xe gắn máy mang Biển kiểm soát 73AC-018.88, do Công an huyện T cấp ngày 21/4/2022.

Ngày 24/12/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã chuyển xe gắn máy nhãn hiệu VIET THAI và giấy tờ liên quan nêu trên đến phòng C2 Công an tỉnh Q xử phạt vi phạm hành chính.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Cao Lê H đã bồi thường chi phí điều trị và sửa chữa xe mô tô cho bị hại Nguyễn Mỹ N cùng người đại diện hợp pháp số tiền 125.000.000 đồng; bồi thường cho bị hại Đào Thảo M và người đại diện hợp pháp số tiền 12.000.000 đồng. Các bị hại và người đại diện hợp pháp đã nhận đủ số tiền nói trên, cam đoan chấm dứt phần dân sự, không có yêu cầu gì thêm về phần bồi thường dân sự và có đơn yêu cầu miễn trách nhiệm hình sự, xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bản Cáo trạng số 02/CT-VKSTH ngày 30/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa truy tố bị cáo Cao Lê H về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm c khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa giữ nguyên quyết định truy tố; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự; các điểm a, b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Xử phạt bị cáo Cao Lê H từ 30 tháng đến 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng; về xử lý tài liệu, đồ vật: trả lại cho Cao Lê H 01 xe ô tô nhãn hiệu: CHEVROLET; số loại: AVEO; màu sơn: Đỏ; Biển kiểm soát: 73A-175.99; số khung: 69YDEH919563; số máy: 5S3133240030; 01 giấy phép lái xe hạng C, số: [...], mang tên Cao Lê H, do Sở Giao thông vận tải tỉnh Q cấp ngày: 08/5/2020; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 0442B7, của xe ô tô Biển biển soát 73A-175.99, do Phòng CSGT Công an tỉnh Q cấp ngày 20/8/2020.; 01 giấy chứng nhận kiểm định số: 5945764, của xe ô tô Biển kiểm soát 73A-175.99; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe ô tô số: 6544862; của xe ô tô Biển kiểm soát 73A-175.99. Về phần bồi thường dân sự: Các bên đã thỏa thuận xong, không yêu cầu gì thêm nên không xem xét; về án phí: Buộc bị cáo Cao Lê H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

* Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Sau khi gây tại nạn, bị cáo H đã bồi thường cho bị hại đầy đủ; các bị hại và người đại diện hợp pháp không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, người đại diện hợp pháp và người bảo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, các bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và một số người làm chứng vắng mặt không lý do. Xét thấy sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án do họ đã có lời khai đầy đủ lưu trong hồ sơ vụ án. Căn cứ vào Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, HĐXX xử quyết định xét xử vắng mặt bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và một số người làm chứng.

[3] Về cấu thành tội phạm: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Cao Lê H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa đã truy tố bị cáo trước Tòa án. Xét lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, đại diện hợp pháp bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, biên bản khám phương tiện, bản ảnh, kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 19 giờ 34 phút, ngày 25/8/2024, tại Km 47+850 thuộc địa phận thôn T, xã S, huyện T, tỉnh Quảng Bình, Cao Lê H có giấy phép lái xe hợp lệ, trực tiếp điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 73A-175.99 đi không đúng phần đường, làn đường quy định, xử lý kém gây tai nạn với xe gắn máy biểm kiểm soát 73AC-018.88 do Nguyễn Mỹ N điều khiển, chở theo Đào Thảo M chạy hướng ngược chiều. Hậu quả, Đào Thảo M bị thương với tỷ lệ thương tích là 15% và Nguyễn Mỹ N bị thương với tỷ lệ thương tích là 77%, tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của hai người là 92%. Hành vi của bị cáo Cao Lê H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông thông đường bộ” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự. Do đó, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa truy tố bị cáo Cao Lê H về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Xét bị cáo Cao Lê H tại thời điểm gây tai nạn là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng khi điều kiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ đã không chấp hành đúng quy định của pháp luật về giao thông đường bộ, gây tai nạn, hậu quả gây thương tích 02 người với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể 92%. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp gây thiệt hại nghiêm trọng đến sức khỏe của người khác, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông trên địa bàn, gây tâm lý bất an cho người dân khi tham gia giao thông. Lỗi trong vụ tai nạn này thuộc về bị cáo, vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án đủ nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại, khắc phục hậu quả đối với bị hại, được bị hại ghi nhận, nên trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã có ý kiến đề nghị miễn, giảm trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử qua thảo luận, đánh giá quyết định áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ về hình phạt cho bị cáo.

[7] Về nhân thân: Ngoài việc thực hiện hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trong vụ án này, bị cáo chưa có lần nào vi phạm pháp luật bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử phạt nên bị cáo có nhân thân tốt.

[8] Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, HĐXX thấy tuy hành vi của bị cáo thuộc tội phạm nghiêm trọng nhưng bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt nên chưa cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự cho bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng mức, thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo đã bồi thường số tiền 125.000.000 đồng cho bị hại Nguyễn Mỹ N, bồi thường cho bị hại Đào Thảo M số tiền 12.000.000 đồng. Các bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận đủ số tiền và cam đoan chấm dứt phần dân sự, không có yêu cầu gì thêm về phần bồi thường; tại phiên tòa người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại không có ý kiến hoặc yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét.

[10] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã chuyển xe gắn máy nhãn hiệu VIET THAI và giấy tờ liên quan đến Phòng cảnh sát Công an tỉnh Q xử phát vi phạm hành chính là đúng quy định của pháp luật.

Đối với 01 xe ô tô nhãn hiệu: CHEVROLET; số loại: AVEO; màu sơn: Đỏ; Biển kiểm soát: 73A-175.99; số khung: 69YDEH919563; số máy: 5S3133240030, tình trạng xe đã qua sử dụng, xét đây là tài sản của bị cáo, tuy nhiên đây là phương tiện kiếm sống duy nhất của gia đình bị cáo, nếu tịch thu sung ngân sách Nhà nước sẽ làm ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình bị cáo nên cần trả lại xe ô tô cho bị cáo cùng các giấy tờ liên quan gồm: 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 0442B7, của xe ô tô Biển biển soát 73A-175.99, do Phòng CSGT Công an tỉnh Q cấp ngày 20/8/2020, 01 giấy chứng nhận kiểm định số: 5945764, của xe ô tô Biển kiểm soát 73A-175.99 và 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe ô tô số: 6544862; của xe ô tô Biển kiểm soát 73A-175.99.

Đối với 01 giấy phép lái xe hạng C, số: [...], mang tên Cao Lê H, do Sở Giao thông vận tải tỉnh Q cấp ngày: 08/5/2020. Xét do, Cao Lê H không bị HĐXX áp dụng hình phạt bổ sung cấm hành nghề lái xe, nên cần trả lại Giấy phép lái xe này cho bị cáo sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

[11] Về án phí: Bị cáo Cao Lê H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; các điểm a, b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Tuyên bố bị cáo Cao Lê H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Xử phạt: Bị cáo Cao Lê H 30 (Ba mươi) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (Sáu mươi tháng) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 11/02/2025.

Quyết định tạm hoãn xuất cảnh đối với bị cáo kể từ ngày tuyên án (11/02/2025) cho đến thời điểm bị cáo đi chấp hành án phạt tù.

Giao bị cáo Cao Lê H cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện M, tỉnh Quảng Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Trách nhiệm dân sự: Miễn xét.

4. Xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Cao Lê H 01 xe ô tô nhãn hiệu CHEVROLET, biển kiểm soát: 73A-175.99, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 0442B7, của xe ô tô Biển biển soát 73A-175.99, do Phòng CSGT Công an tỉnh Q cấp ngày 20/8/2020, 01 giấy chứng nhận kiểm định số: 5945764, của xe ô tô Biển kiểm soát 73A-175.99, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe ô tô số: 6544862; của xe ô tô Biển kiểm soát 73A-175.99 và 01 giấy phép lái xe hạng C, số: [...], mang tên Cao Lê H.

(Vật chứng có số lượng, đặc điểm như mô tả tại Biên bản về việc giao, nhận vật chứng lập ngày 31/12/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa).

5. Án phí: Bị cáo Cao Lê H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách Nhà nước.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (11/02/2025). Người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử lại theo trình tự phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Q. Bình;
  • - VKSND tỉnh Q. Bình;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Q. Bình;
  • - VKSND huyện Tuyên Hóa;
  • - Công an huyện Tuyên Hóa (02 bản);
  • - Chi cục THADS huyện Tuyên Hóa;
  • - Bị cáo, đại diện hợp pháp bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại;
  • - Lưu VP; HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2025/HS-ST ngày 11/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 02/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cao Lê H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger