Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH XUYÊN

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập-Tự do-Hạnh phúc

Bản án số: 02/2025/HNGĐ- ST

Ngày 10 tháng 02 năm 2025

“Về việc Tranh chấp hôn nhân gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN - TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Nữ Hương Huyền.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hảo và Lê Thị Bích Thuần

Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Hà- Thư ký Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên tham gia phiên tòa:

Ông Phó Văn Lợi- Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên đưa ra xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 238/2024/HNGĐ-ST ngày 04 tháng 11 năm 2024“Về việc tranh chấp Hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2024/QĐXX ngày 18 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02 /QĐ- HPT ngày 03/01/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Phạm Thị N, sinh năm 1985; nơi cư trú: Thôn C, thị trấn H, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).

Bị đơn: Ông Thái Văn P, sinh năm 1970; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện và quá trình làm việc tại Toà án, nguyên đơn bà Phạm Thị N trình bày:

Bà N1 và ông Thái Văn P chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2003 nhưng đến tháng 4 năm 2008 mới đăng ký kết hôn. Trước khi cưới được tự do tìm hiểu, tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc. Sau khi kết hôn bà N1 về làm dâu chung sống cùng gia đình ông P ở tại Thôn T, xã T, huyện B. Trong quá trình chung sống tình cảm vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc nhưng đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do có nhiều bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau, ông P cờ bạc, rượu chè nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay không quan tâm gì đến nhau, bà N1 đã về nhà bố mẹ đẻ ở Thôn C, thị trấn H, huyện L. Bà N1 đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn ông P vì tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không hạnh phúc.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Thái Tiến D, sinh ngày 13/01/2004 và Thái Tiến M- sinh ngày 08/02/2010 (cháu D đã đủ 18 tuổi nên không đề nghị Tòa án giải quyết). Cháu M đang ở cùng ông P vì hiện nay cháu đang theo học tại B nhưng bà N1 vẫn có trách nhiệm chăm lo và đóng toàn bộ tiền học cho cháu. Ly hôn bà N1 đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu M và không yêu cầu ông P phải cấp dưỡng nuôi con

Về tài sản chung, tài sản riêng, vay nợ, công sức: Không đề nghị Tòa án giải quyết.

Bị đơn, ông Thái Văn P vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình làm việc trình bày: Ông P xác nhận lời trình bày của bà N1 về thời gian kết hôn và quá trình chung sống như bà N1 trình bày là đúng và vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm. Ông P xác định tình cảm vợ chồng không còn nhưng ông P mong muốn vợ chồng về đoàn tụ vì các con của ông bà đều đã đến tuổi lập gia đình. Tại biên bản làm việc ngày 12 tháng 12 năm 2024, ông P trình bày chỉ đồng ý ly hôn với bà N1 với điều kiện bà N1 phải có trách nhiệm trả cho ông P số tiền 500.000 000đ (Năm trăm triệu đồng) vì trong thời gian chung sống cùng nhau ông P đã nhiều lần đưa tiền cho bà N1 để bà N1 mua vàng, lần nhiều nhất là đưa 70.000.000 đồng, lần ít nhất là đưa 20.000.000 đồng. Ngoài ra có lần ông P đưa cho bà N1 05 chỉ vàng, có lần đưa 01 cây vàng để bà N1 cất giữ. Biên bản làm việc ngày 07/02/2025 ông P chỉ đề nghị bà N1 phải có trách nhiệm thanh toán cho ông P số tiền 300.000.000₫ (Ba trăm triệu đồng) thì ông P mới đồng ý ly hôn bà N1.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung như bà N1 trình bày. Cháu Thái Tiến D đã trưởng thành nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Cháu Thái Tiến M hiện nay đang ở cùng cháu Thái Tiến D. Ly hôn ông P đề nghị được nuôi dưỡng cháu M và không yêu cầu bà N1 phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, tài sản riêng, vay nợ, công sức: Không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên phát biểu quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng mọi trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Đối với nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ giấy triệu tập của Tòa án.

Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình: Xử cho bà Phạm Thị N được ly hôn ông Thái Văn P.

Về con chung: Giao cháu Thái Tiến M cho bà Phạm Thị N được trực tiếp nuôi dưỡng, ông P không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Không chấp nhận yêu cầu của ông Thái Văn P về việc yêu cầu bà Phạm Thị N phải thanh toán trả số tiền 300.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và đã thông báo về thời gian, địa điểm mở phiên tòa cho ông Thái Văn P theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng tại phiên tòa ngày 03/01/2025 và ngày 17/01/2025, ông P vẫn không đến Tòa án để tham gia xét xử. Tòa án đã quyết định hoãn phiên tòa và quyết định mở lại phiên tòa (lần thứ ba) vào ngày 10/02/2025. Ngày 06/02/2025 ông P trực tiếp đến Tòa án nộp đơn đề nghị hoãn phiên tòa với lý do đang điều trị bệnh tại nhà vì bị đau đầu do rối loạn tiền đình. Xét thấy, ông P đã được Tòa án triệu tập lần thứ ba đến Tòa án để tham gia xét xử nhưng vẫn vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn đưa vụ án ra xét xử.

[2] Về pháp luật áp dụng trong vụ án: Đây là vụ án tranh chấp “Hôn nhân và gia đình”, do đó pháp luật được áp dụng để giải quyết vụ án là Luật Hôn nhân và gia đình; Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Ông Thái Văn P và bà Phạm Thị N chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2003 nhưng đến tháng 4 năm 2008 đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện, hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng nảy sinh nhiều bất đồng, mâu thuẫn. Nguyên nhân theo bà N trình bày là do ông P rượu chè, cờ bạc và thường đánh đuổi bà nên vợ chồng có nhiều bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung nên thường xuyên cãi nhau. Còn phía ông P cho rằng vợ chồng cũng có mâu thuẫn do vợ chồng có nhiều bất đồng quan điểm nên tình cảm rạn nứt. Ông P xác định tình cảm vợ chồng không còn nhưng ông P không đồng ý ly hôn với lý do các con của ông bà đều đến tuổi lập gia đình và chỉ đồng ý ly hôn với điều kiện bà N phải có trách nhiệm thanh toán cho ông P số tiền 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng).

Hội đồng xét xử thấy mâu thuẫn giữa bà N và ông P đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Bản thân ông P cũng thừa nhận vợ chồng có nhiều bất đồng, mâu thuẫn nên vợ chồng không quan tâm và không có trách nhiệm với nhau. Phía ông P trình bày mong mốn về đoàn tụ nhưng bản thân ông P không đưa ra biện pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng mà lại có quan điểm chỉ đồng ý ly hôn khi bà N đưa cho ông số tiền 300.000.000 đồng. Điều này thấy rằng, quan điểm không đồng ý ly hôn của ông P không xuất phát từ tình cảm yêu thương và nguyện vọng thực sự muốn hàn gắn quan hệ vợ chồng.

Tòa án đã tiến hành xác minh tại nơi cư trú của ông P, bà N thể hiện tình cảm vợ chồng của ông P, bà N có nhiều mâu thuẫn. Do đó cần chấp nhận đơn khởi kiện của bà N để bà N được ly hôn ông P theo quy định tại Điều 56 luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về con chung: Hai bên xác nhận vợ chồng có 02 con chung là Thái Tiến D, sinh năm 2004 và Thái Tiến M, sinh ngày 08/02/2010. Cháu D đã đủ 18 tuổi, trưởng thành nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Đối với cháu Thái Tiến M thì cả ông P và bà N đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu phía bên kia phải cấp dưỡng nuôi con.

Tòa án tiến hành lấy lời khai của cháu M có nguyện vọng muốn được ở cùng bà N. Quá trình làm việc cả ông P và bà N đều xác nhận hiện nay cháu M đang ở trọ cùng với cháu Thái Tiến D tại thôn N, xã T, huyện B nhưng bà N vẫn có trách nhiệm chăm lo, đóng tiền học và chu cấp sinh hoạt cho cháu D, còn phía ông P không có trách nhiệm gì đối với cháu M.

Xét nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu M của ông P và bà N là chính đáng. Tuy nhiên việc giao con cho ai nuôi dưỡng cần đảm bảo điều kiện về mọi mặt cho cháu M. Phía ông P thừa nhận hiện nay đang đi ở trọ, làm nghề tự do và thu nhập không ổn định, còn bà N đã về nhà bố mẹ đẻ ở tại thị trấn H, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc và có thu thập ổn định 8.000.000 đồng/tháng

Do đó cần giao cháu Thái Tiến M cho bà Phạm Thị N được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, ông P không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

[5] Về tài sản chung, tài sản riêng, vay nợ và công sức: Cả bà N và ông P đều không đề nghị giải quyết. Tuy nhiên, ông P trình bày: ông yêu cầu bà N có trách nhiệm trả cho ông P số tiền 300.000.000 đồng thì mới đồng ý ly hôn bà N với lý do trong thời gian chung sống khoảng 10 năm trở lại đây ông P rất nhiều lần đưa tiền cho bà N để bà N mua vàng. Ngoài ra có lần ông P đưa cho bà N 05 chỉ vàng, có lần đưa cho bà N 01 cây vàng để bà N cất giữ.

Phía bà N không đồng ý với đề nghị này của ông P vì khẳng định không bao giờ ông P đưa tiền và vàng cho bà N. Bản thân ông P cờ bạc, nợ nần phải bán nhà để trả nợ nên không có tiền đưa cho bà N.

Xét yêu cầu của ông P đề nghị bà N phải thanh toán cho ông P số tiền 300.000.000 đồng, Hội đồng xét xử thấy: Bản thân ông P thừa nhận có nợ nần, đã bán toàn bộ nhà đất cho người khác. Hơn nữa ông P không có chứng cứ gì để cung cấp cho Tòa án thể hiện việc ông P đưa tiền và vàng cho bà N cất giữ, phía bà N cũng không thừa nhận việc này nên Hội đồng xét xử thấy không có căn cứ để xem xét và chấp nhận.

[6] Về án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Nguyệt phải nộp 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: bà Phạm Thị N được ly hôn ông Thái Văn P.
  2. Về con chung: Bà Phạm Thị N được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Thái Tiến M, sinh ngày 08/02/2010, ông P không phải cấp dưỡng nuôi con. Không ai được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom con chung.
  3. Về tài sản chung, tài sản riêng, vay nợ, công sức: Các đương sự đều không đề nghị Tòa án giải quyết.

    Không chấp nhận yêu cầu của ông Thái Văn P về việc yêu cầu bà Phạm Thị N phải thanh toán trả cho ông P số tiền 300.000.000 đồng.

  4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Phạm Thị N phải nộp 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0002517 ngày 04/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Xuyên. Bà N1 đã nộp đủ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết Bản án.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Bình Xuyên;
  • - Chi cục THADS huyện Bình Xuyên;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Trung Mỹ, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc (ĐKKH năm 2008);
  • - Lưu HS, VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Nữ Hương Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2025/HNGĐ- ST ngày 10/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN TỈNH VĨNH PHÚC về tranh chấp hôn nhân gia đình

  • Số bản án: 02/2025/HNGĐ- ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hon
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger