Hệ thống pháp luật
Mẫu số 52-DS

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 02/2025/KDTM-ST

Ngày: 05-02-2025

V/v tranh chấp Hợp đồng

tín dụng, hợp đồng thế chấp

quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Bé Thu

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Huỳnh Thị Thúy Hoa và ông Nguyễn Văn Sơn.

– Thư ký phiên tòa: Bà Lý Ngọc Dung, là Thư ký Tòa án, của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

– Đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố Long Xuyên tham gia phiên toà: Ông Lê Hoàng Nhựt - Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 42/2024/TLST-KDTM, ngày 14 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 825/2024/QĐXXST-KDTM, ngày 20 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Á.

Trụ sở: Số D N, phường E, quận C, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Từ Tiến P, chức vụ Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Thanh H, chức vụ Giám đốc Phòng Quản lý nợ. Theo Giấy ủy quyền số 1075/UQ.QLN.22, ngày 22/6/2022 của Ngân hàng Thương mại cổ phần Á.

Ông Lê Thanh H ủy quyền lại cho bà Huỳnh N, nhân viên Ngân hàng Thương mại cổ phần Á. Theo Giấy ủy quyền số 1131/UQ-QLN.24, ngày 23/7/2024 của Ngân hàng Thương mại cổ phần Á. Địa chỉ liên hệ: Lầu A, Toà nhà A, số I T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (Có mặt).

Bị đơn: Bà Trần Thị Thanh T, sinh năm 1971, là Chủ Doanh nghiệp tư nhân T2 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Số E, Quốc lộ I, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

2

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Căn cứ đơn khởi kiện đề ngày 23 tháng 7 năm 2024 thể hiện nội dung và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn như sau:

Ngân hàng Thương mại cổ phần Á cấp tín dụng cho bà Trần Thị Thanh T, là Chủ Doanh nghiệp tư nhân T2 căn cứ theo: Thỏa thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung số ANG.DN.1344.241022 ngày 25/10/2022; Hợp đồng cấp tín dụng số ANG.DN.1346.241022 ngày 25/10/2022; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số ANG.DN.1346.241022/SĐBS-01 ngày 22/04/2024 về việc sửa đổi điều khoản về thời hiệu của hạn mức tín dụng. Chi tiết như sau:

  • Hạn mức tín dụng: 10.500.000.000 đồng.
  • Mục đích cho vay: Bổ sung vốn kinh doanh các ngành nghề theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
  • Phương thức cho vay: Cho vay theo hạn mức tín dụng.
  • Phương thức giải ngân: Được quy định trong từng Khế ước nhận nợ cụ thể.
  • Thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng: kể từ ngày ký hợp đồng này (ngày 25/10/2022) đến ngày 08/05/2024.
  • Thời hạn cho vay: 06 tháng, kể từ ngày kế tiếp ngày bên được cấp tín dụng nhận tiền vay lần đầu.
  • Lãi suất trong hạn: Được quy định trong từng Khế ước nhận nợ cụ thể.
  • Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn.
  • Lãi suất phạt chậm trả lãi: 10%/năm.

Khoản nợ nêu trên được bảo đảm bằng các biện pháp bảo đảm sau:

  • Thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 37, tờ bản đồ số 30, đất toạ lạc tại phường M, thành phố L, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH09695 do Ủy ban nhân dân thành phố L, tỉnh An Giang cấp ngày 29/06/2020 cho bà Trần Thị Thanh T.
  • Thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 155, tờ bản đồ số 30, đất toạ lạc tại phường M, thành phố L, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH09696 do Ủy ban nhân dân thành phố L, tỉnh An Giang cấp ngày 29/06/2020 cho bà Trần Thị Thanh T.

Tài sản thế chấp cho ngân hàng C theo:

  • Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số ANG.BĐDN.301.080721 ngày 09/07/2021.
  • Cam kết thế chấp tài sản ngày 25/10/2022.

3

Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, bà Trần Thị Thanh T, là Chủ Doanh nghiệp tư nhân T2 vi phạm nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng. Do đó, căn cứ thỏa thuận giữa hai bên về việc chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn và chuyển nợ quá hạn thì ngày 03/07/2024, ngân hàng ra thông báo thu hồi nợ trước hạn đối với toàn bộ khoản vay theo Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ nêu trên.

Để bảo đảm quyền lợi hợp pháp của ngân hàng, ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

Buộc bà Trần Thị Thanh T, là Chủ Doanh nghiệp tư nhân Thu T1 trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Á tổng số nợ còn thiếu tính đến ngày 20/7/2024 là 10.703.958.637 đồng, trong đó gồm: vốn gốc 10.500.000.000 đồng, lãi trong hạn 195.439.533 đồng, lãi quá hạn 6.904.111 đồng, phạt chậm trả lãi 1.614.993 đồng.

- Bà Trần Thị Thanh T, là Chủ Doanh nghiệp tư nhân Thu T1 còn phải tiếp tục trả tiền lãi, phạt chậm trả lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Thoả thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung, Hợp đồng cấp tín dụng, Khế ước nhận nợ kể từ ngày 21/7/2024 đến khi trả hết nợ.

- Trường hợp bà Trần Thị Thanh T, là Chủ Doanh nghiệp tư nhân Thu T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì các tài sản bảo đảm theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số ANG.BĐDN.301.080721 ngày 09/7/2021 ký kết giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Á – Chi nhánh A1 với bên thế chấp là bà Trần Thị Thanh T được cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý để thu hồi nợ là:

  • Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 37, tờ bản đồ số 30, địa chỉ: Phường M, thành phố L, tỉnh An Giang thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà Trần Thị Thanh T.
  • Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 155, tờ bản đồ số 30, địa chỉ: Phường M, thành phố L, tỉnh An Giang thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà Trần Thị Thanh T.

Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bị đơn bà Trần Thị Thanh T vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.

Tại phiên tòa ngày 05/02/2025:

- Nguyên đơn yêu cầu bà T trả cho ngân hàng tổng số nợ còn thiếu tính đến ngày 05/02/2025 là 11.416.104.170 đồng. Trong đó: Vốn gốc là 10.500.000.000 đồng, lãi trong hạn 195.439.533 đồng, lãi quá hạn 697.315.070 đồng, phạt chậm trả lãi 23.349.567 đồng; bà T còn tiếp tục trả tiền lãi, phạt chậm trả lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại các thỏa thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung, hợp đồng cấp tín dụng, khế ước nhận nợ, tính kể từ ngày 06/02/2025 đến ngày trả hết nợ; tiếp tục duy trì Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số ANG.BĐDN.301.080721, ngày 09/7/2021 để đảm bảo cho việc thi hành án thu hồi nợ cho ngân hàng.

- Bị đơn vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.

4

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

  • Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
  • Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng Dân sự; bị đơn thực hiện đầy không đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
  • Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 317, 318, 319, 320, 463, 466, 470 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng Thương mại cổ phần Á khởi kiện yêu cầu bà T trả nợ vay theo Hợp đồng tín dụng, xem xét hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất. Bà T có nơi cư trú tại thành phố L, tỉnh An Giang. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý là đúng thẩm quyền.

[2] Về thủ tục tố tụng:

[2.1] Ngân hàng ủy quyền cho bà Huỳnh Như . Việc ủy quyền phù hợp với quy định pháp luật. Do đó, bà N tham gia với tư cách người đại diện theo ủy quyền cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Á theo quy định tại khoản 4 Điều 85 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[2.2] Bà T được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự: Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bà T.

[3] Về nội dung vụ án: Ngân hàng căn cứ vào Thỏa thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung số ANG.DN.1344.241022, ngày 25/10/2022; Hợp đồng cấp tín dụng số ANG.DN.1346.241022, ngày 25/10/2022 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số ANG.DN.1346.241022/SĐBS-01, ngày 22/4/2024 ký giữa bà Trần Thị Thanh T với Ngân hàng Thương mại cổ phần Á – Chi nhánh A1 để cho bà T vay lần lượt số tiền 5.000.000.000 đồng và 5.500.000.000 đồng theo Giấy đề nghị giải ngân kiêm chứng từ nhận nợ số [...], ngày 22/4/2024 và số [...], ngày 23/4/2024.

Sau khi nhận tiền vay thì bà T chỉ trả 3.574.166 đồng tiền lãi đối với số tiền 5.000.000.000 đồng; ngoài ra bà T không thanh toán thêm khoản lãi, hay nợ gốc nào. Tổng số tiền nợ gốc và lãi bà T nợ tính đến ngày 05/02/2025 là 11.416.104.170

5

đồng. Trong đó: Nợ gốc: 10.500.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn 195.439.533 đồng, lãi quá hạn 697.315.070 đồng và phạt chậm trả 23.349.567 đồng.

Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn bà T không có văn bản trình bày ý kiến, không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh hiện tại bà đã hoàn thành nghĩa vụ đối với ngân hàng hay chưa. Do đó, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp yêu cầu buộc bà T có nghĩa vụ trả nợ gốc, nợ lãi (gồm lãi trong hạn và quá hạn), lãi phạt chậm trả và tiếp tục chịu lãi phát sinh của ngân hàng phù hợp với Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với yêu cầu duy trì hợp đồng thế chấp số ANG.BĐDN.301.080721 được ký giữa bà Trần Thị Thanh T với Ngân hàng Thương mại cổ phần Á - chi nhánh A1, được Phòng C1 chứng nhận có số công chứng 1913, ngày 09/7/2021 và đăng ký thế chấp tại Văn phòng Đ chi nhánh L, ngày 09/7/2021.

Tại thời điểm hai bên giao kết hợp đồng thế chấp Luật Đất đai năm 2013 đang có hiệu lực thi hành. Hợp đồng thế chấp giữa hai bên được công chứng và đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai theo đúng quy định tại khoản 3 Điều 167 và khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013, nên yêu cầu duy trì đối với hợp đồng thế chấp này của ngân hàng là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Trường hợp bà T không thanh toán được nợ gốc và lãi thì ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên tài sản đã thế chấp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bà T. Tài sản thế chấp: Quyền sử dụng đất, tài sản khác gắn liền với đất đã được UBND thành phố L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH09695 và CH09696, ngày 29/6/2020 cho bà Trần Thị Thanh T.

Trường hợp bà T thanh toán đủ nợ gốc và lãi thì ngân hàng phải trả lại bản chính giấy chứng nhận nêu trên cho bà T.

[4] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: 1.475.000 đồng. Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên căn cứ vào Điều 157 Bộ luật Tố tụng Dân sự bị đơn phải có nghĩa vụ chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Ngân hàng đã tạm ứng nên bà T có nghĩa vụ hoàn lại 1.475.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ cho Ngân hàng.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

6

  • Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 85, khoản 4 Điều 147, 157, 186, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, 273, 278 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
  • Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng;
  • Khoản 3 Điều 167 và khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013;
  • Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Á: Buộc bà Trần Thị Thanh T, là chủ Doanh nghiệp tư nhân T2 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Á số tiền 11.416.103.170 (Mười một tỷ, bốn trăm mười sáu triệu, một trăm lẻ ba nghìn, một trăm bảy mươi đồng) còn nợ theo Hợp đồng cấp tín dụng số ANG.DN.1346.241022, ngày 25/10/2022 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số ANG.DN.1346.241022/SĐBS-01, ngày 22/4/2024 ký giữa bà Trần Thị Thanh T với Ngân hàng Thương mại cổ phần Á – Chi nhánh A1. Bao gồm:

  • 5.434.850.020 đồng theo Khế ước nhận nợ số [...], ngày 22/4/2024. Trong đó: Nợ gốc là 5.000.000.000 đồng; lãi trong hạn 91.768.300 đồng; lãi quá hạn 332.054.795 đồng; phạt chậm trả lãi 11.026.925 đồng;
  • 5.981.254.150 đồng theo Khế ước nhận nợ số [...], ngày 23/4/2024. Trong đó: Nợ gốc là 5.500.000.000 đồng; lãi trong hạn 103.671.233 đồng; lãi quá hạn 365.260.275 đồng; phạt chậm trả lãi 12.322.642 đồng.

Kể từ ngày 06/02/2025 bà T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Trường hợp bà T không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ được nợ gốc và lãi thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Á được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên tài sản đã thế chấp để bảo đảm nghĩa vụ thi hành án của bà T theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số ANG.BĐDN.301.080721 được ký giữa bà Trần Thị Thanh T với Ngân hàng Thương mại cổ phần Á - chi nhánh A1, được Phòng C1 chứng nhận có số công chứng 1913, ngày 09/7/2021 và đăng ký thế chấp tại Văn phòng Đ chi nhánh L, ngày 09/7/2021. Tài sản thế chấp: Quyền sử dụng đất, tài sản khác gắn liền với đất đã được UBND thành phố L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH09695 và CH09696, ngày 29/6/2020 cho bà Trần Thị Thanh T;

Trường hợp bà T thanh toán đủ nợ gốc và lãi thì ngân hàng phải trả lại bản chính giấy chứng nhận nêu trên cho bà T.

7

[2] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Bà T có nghĩa vụ hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Á 1.475.000 (Một triệu, bốn trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà T phải nộp 119.416.000 (Một trăm mười chín triệu, bốn trăm mười sáu nghìn đồng), án phí dân sự sơ thẩm.

Ngân hàng Thương mại cổ phần Á được nhận lại 59.351.979 (Năm mươi chín triệu, ba trăm năm mươi mốt nghìn, chín trăm bảy mươi chín đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001590, ngày 14 tháng 10 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Long Xuyên.

[4] Về quyền kháng cáo: Ngân hàng Thương mại cổ phần Á được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bà Trần Thị Thanh T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân TPLX;
  • - Chi cục Thi hành án Dân sự TPLX;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Lưu Văn phòng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lê Thị Bé Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2025/KDTM-ST ngày 05/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 02/2025/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp Hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/02/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger