|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 02/2025/HNGĐ-ST
Ngày 24-01-2025
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Bích Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Yến
Bà Mai Thị Duyên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 80/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2025/HNGĐ-ST ngày 17 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T; nơi cư trú: Số A phố N, Tổ D, phường N, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- - Bị đơn: Anh Nguyễn Xuân D; nơi cư trú: Số A phố N, Tổ D, phường N, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 02/10/2024 và bản tự khai nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:
Năm 2017, chị và anh Nguyễn Xuân D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, gia đình hai bên có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán Việt Nam, có đăng ký kết hôn ngày 26 tháng 5 năm 2017 tại Ủy ban nhân dân phường N, quận H, thành phố Hải Phòng.
Quá trình chung sống, vợ chồng có thời gian chung sống bình thường không có mâu thuẫn lớn. Từ tháng 9 năm 2024 cho đến nay phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do hai bên bất đồng quan điểm, lối sống, tính cách dẫn đến vợ chồng không có tiếng nói chung không khí gia đình luôn nặng nề, căng thẳng. Chính vì vậy, từ tháng 9/2024 cho đến nay chị và anh D đã sống ly thân không còn quan hệ về tình cảm cũng như kinh tế. Mâu thuẫn đã được hai bên gia đình phân tích hòa giải nhưng không có kết quả. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Xuân D.
- Về con chung: Chị xác nhận chị và anh D có hai con chung là Nguyễn Đăng K, sinh ngày 03/7/2018 và Nguyễn Đăng K1, sinh ngày 21/12/2022. Khi ly hôn, chị T đề nghị giao con Nguyễn Đăng K cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng; chị nhận nuôi con Nguyễn Đăng K1. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Xuân D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản của Tòa án gồm Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Nguyễn Xuân D vắng mặt, không có lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải được và không lấy được lời khai của anh Nguyễn Xuân D.
* Tòa án đã thu thập chứng cứ tại địa phương cũng như gia đình chị T, anh D thể hiện: Về nguyên nhân mâu thuẫn do hai bên bất đồng quan điểm, lối sống. Từ tháng 9/2024 cho đến nay không biết vì nguyên nhân, lý do gì chị T đã về nhà mẹ đẻ sinh sống và hai người đã sống ly thân, không còn quan hệ về tình cảm cũng như kinh tế. Nay chị T có đơn xin ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật; về con chung: Chị T và anh D có hai con chung là Nguyễn Đăng K, sinh ngày 03/7/2018 và Nguyễn Đăng K1, sinh ngày 21/12/2022; trường hợp ly hôn, địa phương và gia đình đề nghị giao con chung Nguyễn Đăng K cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng; giao con chung Nguyễn Đăng K1 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng; Về tài sản chung: Địa phương, cũng như gia đình không có ý kiến gì.
* Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T vắng mặt nhưng đã có quan điểm giải quyết vụ án và có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt, Tòa án công bố lời khai của chị T.
* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết từ giai đoạn thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật, bị đơn không tuân thủ đúng quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu do đương sự cung cấp và chứng cứ do Tòa án thu thập trên cơ sở tranh tụng tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147; b khoản 2 Điều 227; Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự của Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56 và các điều 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị định số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Nguyễn Xuân D; về việc nuôi con: Giao con Nguyễn Đăng K, sinh ngày 03/7/2018 cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng; giao con Nguyễn Đăng K1, sinh ngày 21/12/2022 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi mỗi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, chị Nguyễn Thị T không yêu cầu giải quyết; về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Tòa án gải quyết; về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng dân sự:
+ Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
[1] Đây là quan hệ pháp luật về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn anh Nguyễn Xuân Du cư T1 tại địa bàn quận H nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Về sự vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn:
[2] Nguyên đơn vắng mặt có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt; bị đơn anh Nguyễn Xuân D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Ngày 03 tháng 01 năm 2025, Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng đã ra quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QĐXXST-HNGĐ. Nhưng tại phiên tòa ngày 17 tháng 01 năm 2025, anh Nguyễn Xuân D vắng mặt lần thứ nhất. Hội đồng xét xử đã ra Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2025/QĐST-HNGĐ và ấn định phiên tòa được mở lại vào hồi 15 giờ ngày 24 tháng 01 năm 2025, tại phiên tòa bị đơn tiếp tục vắng mặt lần thứ hai không có lý do bất khả kháng. Nên Hội đồng xét xử xử vắng mặt nguyên đơn; bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Xuân D được xác lập từ ngày 26 tháng 5 năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, quận H, thành phố Hải Phòng. Đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Quá trình chung sống chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Xuân D có thời gian sống bình thường không có mâu thuẫn lớn, thời gian gần đây phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do hai bên bất đồng quan điểm, lối sống, tính cách dẫn đến vợ chồng không có tiếng nói chung. Nên từ tháng 9 năm 2024 cho đến nay chị T và anh D đã sống ly thân không còn quan hệ về tình cảm, kinh tế. Mâu thuẫn đã được hai bên gia đình phân tích hòa giải nhưng không có kết quả. Tòa án đã triệu tập nhiều lần tại các buổi hòa giải anh D đều vắng mặt, chứng tỏ anh D không mong muốn để vợ chồng đoàn tụ và không chấp hành pháp luật. Xét mâu thuẫn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Xuân D đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị T.
[5] Về việc nuôi con: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Xuân D có hai con chung là Nguyễn Đăng K, sinh ngày 03/7/2018 và Nguyễn Đăng K1, sinh ngày 21/12/2022. Hội đồng xét xử xét: Việc nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con chung hai bên cha mẹ đều có tình cảm, quyền và trách nhiệm như nhau, chị T và anh D có điều kiện ngang nhau trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung. Cháu Nguyễn Đăng K1 hiện chưa đủ 36 tháng tổi nên cần sự dạy bảo và chăm sóc của chị T nhiều hơn. Mặt khác, để đảm bảo sự ổn định về mặt tâm lý, sự phát triển về mọi mặt cho các con nên: Giao con chung Nguyễn Đăng K cho anh D trực tiếp nuôi; giao con chung Nguyễn Đăng K1 cho chị T trực tiếp nuôi đến khi mỗi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chị Nguyễn Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6] Về việc chia tài sản: Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí:
[7] Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Nguyễn Thị T phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
[8] Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Xuân D được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147; b khoản 2 Điều 227; Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các điều 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị T.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Nguyễn Xuân D.
-
Về việc nuôi con: Giao con chung Nguyễn Đăng K, sinh ngày 03/7/2018 cho anh Nguyễn Xuân D trực tiếp nuôi dưỡng; giao con chung Nguyễn Đăng K1, sinh ngày 21/12/2022 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi mỗi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, chị Nguyễn Thị T không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về việc chia tài sản: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Xuân D không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005678 ngày 29 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Chị Nguyễn Thị T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo đối với bản án:
Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Xuân D vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy đình của pháp luật.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Bích Phượng |
Bản án số 02/2025/HNGĐ-ST ngày 24/01/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 02/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/01/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị T - Nguyễn Xuân D
