|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN TỈNH BẮC KẠN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 02/2025/ HNGĐ - ST
Ngày 22/01/2025
“V/v Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt Thu.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hứa Đình Hiên;
2. Ông Lý Văn Liêm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Bà Bàn Thị Tiên – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 01 năm 2025 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 21/2024/TLST-HNGĐ ngày 13/11/2024 về việc “Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/QĐST-HNGĐ ngày 20/12/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/QĐST-HNGĐ ngày 07/01/2025 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Anh Lý Văn T; sinh năm 1992.
Trú tại: Tổ A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn.
Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
* Bị đơn: Chị Vũ Thị H; sinh năm 1994.
Trú tại: Tổ A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn.
Đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
* Những người làm chứng:
- Ông Lý Văn T1; sinh năm 1965; địa chỉ: Tổ A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn;
- Bà Triệu Thị S; sinh năm 1969; địa chỉ: Tổ A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn;
- Anh Nguyễn Văn C; sinh năm 1990; địa chỉ: Tổ A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn;
- Anh Triệu Hoàng H1, sinh năm 1980; địa chỉ: Tổ A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn.
Những người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn – anh Lý Văn T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh kết hôn với chị Vũ Thị H trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn tại UBND phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn vào ngày 04/5/2015. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống cùng bố mẹ đẻ của anh T tại tổ A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Trong thời gian chung sống những năm đầu cuộc sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc. Nhưng từ đầu năm 2023 thì vợ chồng bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hòa hợp, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống. Chị H bỏ đi làm ăn xa, 1 – 2 tháng mới về thăm con một lần và hầu như không còn quan tâm gì đến gia đình, chồng con. Anh chị đã sống ly thân từ tháng 3 năm 2023 cho đến nay. Trong thời gian ly thân hai bên không còn quan tâm, liên lạc với nhau.
Nay anh xác định tình cảm vợ chồng đã không còn, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Vũ Thị H.
Về con chung: Vợ chồng anh chị có 01 con chung tên là Lý Xuân Q, sinh ngày 10/9/2015. Con chung khỏe mạnh, phát triển bình thường và đang sống cùng anh.
Khi ly hôn, anh có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Lý Xuân Q, sinh ngày 10/9/2015 cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con và không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Anh T xác định vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về vay nợ chung: Anh T xác định vợ chồng không có vay nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn là chị Vũ Thị H:
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành gửi Thông báo thụ lý vụ án đến nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của chị Vũ Thị H, tuy nhiên hết thời hạn đưa ra ý kiến theo Thông báo thụ lý nhưng không thấy chị H có ý kiến bằng văn bản nêu quan điểm của mình đối với yêu cầu ly hôn của anh T. Tòa án cũng đã gửi Giấy triệu tập, yêu cầu chị H đến Tòa án làm việc, tuy nhiên chị H không có mặt tại Tòa án để làm việc theo thời gian ghi trong Giấy triệu tập. Vì vậy Tòa án đã tiến hành làm việc với Tổ trưởng tổ A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn và Công an phường Đ thì được cung cấp thông tin như sau: Chị Vũ Thị H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ A, phường S, thành phố B. Hiện nay chưa thấy chị H khai báo việc chuyển khẩu đi nơi khác và không đăng ký tạm trú ở nơi nào khác. Tuy nhiên, hiện nay chị H đi làm ăn xa, thỉnh thoảng mới về, nhưng về vào ngày nào thì cũng không rõ. Do vậy, Tòa án không thể thực hiện được việc cấp, tống đạt Thông báo, văn bản tố tụng của Tòa án cho chị H. Tòa án đã lập biên bản xác minh và tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng tại nơi cư trú của chị H theo quy định. Quá trình giải quyết vụ án, chị H không đến Tòa án làm việc, không có mặt tại phiên tòa nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của chị H.Tòa án đã gặp Tổ trưởng, Chi hội trưởng Chi hội phụ nữ tổ A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn để xác minh tình trạng hôn nhân của anh Lý Văn T và chị Vũ Thị H. Qua trao đổi, Tòa án được cung cấp thông tin như sau: Anh Lý Văn T và chị Vũ Thị H có đăng ký hộ khẩu thường trú và là công dân sinh sống tại tổ A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Anh T và chị H kết hôn năm 2015. Sau khi kết hôn, anh chị sinh sống tại tổ A, phường Đ từ đó cho đến nay. Những năm đầu, vợ chồng anh chị hoà thuận, hạnh phúc. Tuy nhiên, từ đầu năm 2023 thì giữa anh T và chị H phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do chị H bỏ nhà đi làm xa, ít khi về nhà, không còn quan tâm đến gia đình. Giữa anh T và chị H cũng đã nhiều lần xảy ra cãi vã lẫn nhau về việc anh T không đồng ý cho chị H đi làm xa nhà nhưng chị H không nghe và kiên quyết đi dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Anh chị đã sống ly thân từ cuối năm 2023 cho đến nay.
Qua lấy lời khai của một số người làm chứng là bố mẹ chồng và hàng xóm sinh sống gần nhà anh T, chị H thì họ đều cho biết: Sau khi kết hôn thời gian đầu cuộc sống vợ chồng T – H hòa thuận, hạnh phúc. Nhưng từ đầu năm 2023 thì vợ chồng bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do chị H bỏ đi làm ăn xa, thỉnh thoảng mới về thăm con được 1-2 ngày rồi lại đi và hầu như không còn quan tâm gì đến gia đình, chồng con. Vợ chồng anh T, chị H đã cãi cọ nhau nhiều lần về việc anh T không đồng ý cho chị H tiếp tục đi làm xa nhà nhưng chị H vẫn kiên quyết đi dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn được nữa. Anh T và chị H đã sống ly thân từ cuối năm 2023 cho đến nay.
Toà án đã tiến hành lấy lời khai của con chung là cháu Lý Xuân Q thì cháu Q cũng bày tỏ nguyện vọng được tiếp tục sống cùng bố là anh Lý Văn T để được chăm sóc và nuôi dưỡng tốt nhất.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn phát biểu quan điểm về việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), Thư ký phiên tòa trong quá trình tố tụng, xây dựng hồ sơ và tại phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án đã đảm bảo đúng quy định. Bị đơn mặc dù đã được Tòa án gửi và niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình Tòa án mở phiên tòa để xét xử, nguyên đơn vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 theo đúng quy định của pháp luật nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do; những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy đề nghị HĐXX căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 2 Điều 229; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn anh Lý Văn T, xử cho anh Lý Văn T được ly hôn với chị Vũ Thị H.
Về con chung: Đề nghị HĐXX giao con chung là Lý Xuân Q, sinh ngày 10/9/2015 cho anh Lý Văn T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Lý Văn T không yêu cầu chị Vũ Thị H phải cấp dưỡng nuôi con chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung nên đề nghị HĐXX không xem xét.
Về tài sản chung: Anh T xác định vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét.
Về nợ chung: Anh T xác định vợ chồng không có vay nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn anh Lý Văn T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Về tố tụng: Đây là vụ án “Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn”, bị đơn chị Vũ Thị H có địa chỉ cư trú tại tổ A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn.
Quá trình giải quyết vụ án, anh T đã có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án là phù hợp theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 208 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn mặc dù đã được Tòa án thực hiện việc niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình Tòa án mở phiên tòa để xét xử mặc dù bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 theo đúng quy định của pháp luật nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
Nguyên đơn và những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do, do vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 2 Điều 229; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Lý Văn T và chị Vũ Thị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn vào ngày 04/5/2015 nên xác định hôn nhân của anh T và chị H là hợp pháp.
Quá trình chung sống giữa hai vợ chồng thời gian đầu hòa thuận, hạnh phúc nhưng về sau phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do chị H bỏ nhà đi làm xa, ít khi về nhà, không còn quan tâm đến gia đình. Giữa anh T và chị H cũng đã nhiều lần xảy ra cãi vã lẫn nhau về việc anh T không đồng ý cho chị H đi làm xa nhà nhưng chị H không nghe và kiên quyết đi dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Anh chị đã sống ly thân từ cuối năm 2023 cho đến nay. Trong thời gian ly thân, vợ chồng không còn quan tâm, liên lạc với nhau và không thể hàn gắn được nữa.
Qua lời khai của những người làm chứng và qua xác minh tại địa phương về tình trạng hôn nhân của anh T và chị H, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa anh T và chị H là thực tế và đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Bản thân chị H mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Toà án để trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của anh T đồng thời cũng không có động thái gì để hoà giải mâu thuẫn vợ chồng. Còn anh T có đơn đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải. Qua đó thể hiện cả hai không còn mong muốn được hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do vậy việc anh T xin ly hôn với chị H là có cơ sở, phù hợp với quy định tại Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên có căn cứ chấp nhận.
[3]Về con chung: Anh Lý Văn T và chị Vũ Thị H có 01 (Một) con chung là Lý Xuân Q, sinh ngày 10/9/2015. Hiện nay con chung khỏe mạnh và phát triển bình thường. Khi ly hôn, anh T có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Lý Xuân Q cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Hội đồng xét xử xét thấy chị H vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của chị H về vấn đề nuôi con chung. Mặc dù anh T là lao động tự do nhưng từ khi chị H bỏ đi làm xa thì con chung vẫn sống ổn định với anh T và vẫn được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đầy đủ. Ngoài ra anh T còn được bố mẹ đẻ là ông Lý Văn T1 và bà Triệu Thị S hỗ trợ trong việc chăm sóc, nuôi dạy con chung. Mặt khác con chung cũng có nguyện vọng được tiếp tục sống cùng bố. Do vậy để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con cũng như không làm xáo trộn cuộc sống và tâm lý của con chung thì việc giao con chung cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp nên được HĐXX chấp nhận.
[4] Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung nên HĐXX không xem xét.
[5]Về tài sản chung: Anh T xác định vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
[6] Về nợ chung: Anh T xác định vợ chồng không có vay nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
[7]Về án phí: Nguyên đơn anh Lý Văn T phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, các Điều 35, 39, 227, 228, 229, 238, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn anh Lý Văn T. Anh Lý Văn T được ly hôn với chị Vũ Thị H.
- Về nuôi con chung: Giao con chung là Lý Xuân Q, sinh ngày 10/9/2015, con chung khỏe mạnh và phát triển bình thường cho anh Lý Văn T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con đủ 18 tuổi.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Lý Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung nên HĐXX không xem xét.
Sau khi ly hôn, chị Vũ Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Anh Lý Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
- Về vay nợ chung: Anh Lý Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
- Về án phí: Nguyên đơn anh Lý Văn T phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí anh T đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000635 ngày 13/11/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn. Anh Lý Văn T đã nộp đủ tiền án phí.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Nguyệt Thu |
Bản án số 02/2025/ HNGĐ - ST ngày 22/01/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN về ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn
- Số bản án: 02/2025/ HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/01/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh Lý Văn T được ly hôn với chị Vũ Thị H
