trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi
  • search Phạt nguội vi phạm giao thông tra cứu ở đâu
  • search Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 2026
  • search Luật nhà ở 2023 và hướng dẫn mới
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 02/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 22-01-2025

V/v: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Nguyễn Thanh Trúc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Chu Minh Chiến
  2. Bà Đinh Thị Minh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 39/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1979. Nơi cư trú: Số nhà A đường L, Phường I, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
  2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu M, sinh năm 1978. Nơi cư trú: Số B 141 LN SE KENT, WA 98042 - 3821, U (Hoa Kỳ). Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình xét xử nguyên đơn ông Nguyễn Văn P trình bày: Ông và bà Nguyễn Thị Thu M tự nguyện đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân Phường I, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng cấp giấy chứng nhận kết hôn số 61 ngày 24/5/2008. Sau khi kết hôn, cả hai chung sống hạnh phúc nhưng đến giữa năm 2024 thì bà M đưa các con qua sinh sống tại Hoa Kỳ và không quay về, ông đã liên lạc yêu cầu bà M đưa các con về Việt Nam đi học nhưng bà M không đồng ý mà muốn các con học tại Hoa Kỳ nên vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do bất đồng quan điểm sống. Mâu thuẫn giữa hai vợ chồng kéo dài, hiện cả hai sống ly thân mỗi người một nơi, ông xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với bà M.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Quốc K, sinh ngày 03/12/2011 và Nguyễn Quốc Đ, sinh ngày 24/9/2008. Ly hôn ông đồng ý giao 02 con chung cho bà M trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và ông cấp dưỡng nuôi hai con chung mỗi con 5.000.000 đồng/tháng cho tới khi con chung thành niên.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông xác định không có.

Trong quá trình xét xử bị đơn bà Nguyễn Thị Thu M trình bày: Bà xác nhận việc đăng ký kết hôn như lời trình bày của ông P là đúng. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc sau kết hôn, cả hai phát sinh mâu thuẫn từ khi bà đưa hai con đi Hoa Kỳ vào tháng 6/2024 và không quay về, bà không còn liên lạc với ông P, tình cảm bà dành cho chồng cũng không còn nên bà cũng đồng ý ly hôn với ông P.

Về con chung: Vợ chồng có một hai chung như ông P trình bày. Ly hôn bà đồng ý trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và thống nhất ông P cấp dưỡng nuôi mỗi con chung 5.000.000 đồng/tháng cho tới khi các con chung thành niên.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà xác định không có.

Do bà M có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt nên thuộc trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định khoản 2 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Tòa án chỉ tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ mà không tiến hành hòa giải.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình cho ông P được ly hôn với bà M vì mục đích hôn nhân không đạt. Giao 02 con chung cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng, ông P cấp dưỡng nuôi mỗi con chung 5.000.000 đồng/tháng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát; Tòa án nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Văn P và bị đơn bà Nguyễn Thị Thu M vắng mặt nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên căn cứ Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2]. Về quan hệ tranh chấp: Ông P khởi kiện yêu cầu Tòa án cho ly hôn với bà M hiện cư trú tại Hoa Kỳ. Do vậy, xác định đây là tranh chấp ly hôn theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3]. Quan hệ hôn nhân giữa ông P và bà M là hợp pháp do hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Trong quá trình chung sống, vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn, ông P xác định cuộc sống vợ chồng không thể hòa hợp, tình cảm không còn nên yêu cầu được ly hôn. Bà M trình bày mâu thuẫn giữa vợ chồng kéo dài đến nay vẫn không khắc phục được và bản thân bà cũng không còn tình cảm đối với ông P nên cũng đồng ý ly hôn với ông P. Thực tế qua xác minh chính quyền địa phương thì hiện nay ông P, bà M đang sống ly thân, ông P sống ở Việt Nam còn bà M sống ở Hoa Kỳ. Với thực trạng hôn nhân như trên đã thể hiện mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng và kéo dài, hai bên không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, mạnh ai nấy sống. Nên áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu của ông P, cho ông P và bà M ly hôn.

[4]. Ly hôn ông P và bà M thống nhất bà M trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung Nguyễn Quốc K, sinh ngày 03/12/2011 và Nguyễn Quốc Đ, sinh ngày 24/9/2008; ông P cấp dưỡng nuôi mỗi con chung 5.000.000 đồng/tháng cho tới khi các con chung thành niên. Xét sự thỏa thuận này phù hợp quy định của pháp luật nên chấp nhận. Thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 02/2025 cho đến khi các con chung thành niên.

[5]. Ông P và bà M trình bày tài sản chung và nợ chung không có nên không xem xét.

[6]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở và phù hợp quy định của pháp luật nên chấp nhận.

[7]. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm không có giá ngạch và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 56, 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về hôn nhân: Cho ông Nguyễn Văn P ly hôn bà Nguyễn Thị Thu M.
  2. Về nuôi con chung:
    1. Giao 02 con chung tên Nguyễn Quốc K, sinh ngày 03/12/2011 và Nguyễn Quốc Đ, sinh ngày 24/9/2008 cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi thành niên.
    2. Ông P đóng góp nuôi con với bà M số tiền là 5.000.000đồng/tháng/con cho đến khi các con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 02/2025 cho đến khi các con chung thành niên.

Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn và thay đổi nuôi con được thực hiện theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  1. Về án phí: Ông P phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0009088 ngày 29 tháng 10 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng; ông P còn phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao TP. HCM;
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng;
  • - Cục THADS tỉnh Lâm Đồng;
  • - UBND Phường 9, TP. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Nguyễn Thanh Trúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi 16 giờ 00 phút, ngày 22 tháng 01 năm 2025. Tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Nguyễn Thanh Trúc

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Minh Chiến

Bà Đinh Thị Minh

Tiến hành nghị án vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 39/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” giữa nguyên đơn ông Nguyễn Văn Phong và bà Nguyễn Thị Thu Mai.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,

QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU

Về điều luật áp dụng:

Căn cứ vào Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 56, 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Biểu quyết: 3/3

Về yêu cầu của đương sự:

Ý kiến hội thẩm Chiến: Thực trạng hôn nhân giữa ông Phong và bà Mai thể hiện mục đích hôn nhân không đạt được nên cho ông Phong và bà Mai ly hôn.

Ý kiến hội thẩm Minh: Thống nhất ý kiến của hội thẩm Chiến, ngoài ra bổ sung thêm ý kiến: Ly hôn ông Phong và bà Mai thống nhất bà Mai trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung Nguyễn Quốc Khang, sinh ngày 03/12/2011 và Nguyễn Quốc Đăng, sinh ngày 24/9/2008; ông Phong cấp dưỡng nuôi mỗi con chung 5.000.000 đồng/tháng cho tới khi các con chung thành niên. Xét sự thỏa thuận này phù hợp quy định của pháp luật nên chấp nhận. Thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 02/2025 cho đến khi các con chung thành niên.

Ý kiến thẩm phán: Thống nhất ý kiến của các hội thẩm và bổ sung thêm ý kiến: Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn và thay đổi nuôi con được thực hiện theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Biểu quyết: 3/3

Về án phí:

Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm không có giá ngạch và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Biểu quyết: 3/3

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo luật định.

Biểu quyết: 3/3

Nghị án kết thúc vào hồi 16 giờ 15 phút, ngày 22 tháng 01 năm 2025. Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Nguyễn Thanh Trúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2025/HNGĐ-ST ngày 22/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn

  • Số bản án: 02/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger