|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NẬM NHÙN TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc - |
Bản án số: 02/2024/HS-ST
Ngày 20 -11-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NẬM NHÙN, TỈNH LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông: Đồng Văn Dũng
- - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phan Văn Thóc
- 2. Bà Nghiêm Thị Tú Anh
- - Thư ký phiên toà: Ông: Lý Văn Thắng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Ông: Lương Gia Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến (tại điểm cầu trung tâm là Toà án nhân dân huyện Nậm Nhùn, điểm cầu thành phần là Nhà tạm giữ Công an huyện N) vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2024/TLST-HS, ngày 10/10/2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2024/QĐXXST-HS, ngày 08/11/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vàng A L; sinh năm 1986 tại tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú, chỗ ở trước khi bị bắt: Bản S, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 9/12; chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vàng A C, sinh năm 1969 và con bà Sùng Thị P, sinh năm 1970; Có vợ: Chang Thị P1, sinh năm 1987 và có 04 người con, lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2009. Tiền án; tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/6/2024, chuyển tạm giam từ ngày 25/6/2024, tại Nhà tạm giữ Công an huyện N, tỉnh Lai Châu cho đến nay. (Có mặt tại điểm cầu thành phần).
Người tham gia tố tụng khác.
Người làm chứng: Chị Vàng Thị D, sinh năm 1985
Địa chỉ: Bản S, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Cách ngày Vàng A L bị bắt quả tang khoảng 01 tuần (Lùng không nhớ rõ ngày), L đi từ nhà ở bản S, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu đến bản C, xã S, huyện P chơi. Tại đây, L gặp và mua được của một người đàn ông lạ mặt 01 gói Heroine được gói ngoài bằng mảnh nilon màu hồng với giá 300.000 đồng. Mua được H, L cất vào trong chiếc ví rồi để trong túi áo ngực trái đang mặc rồi đi về nhà. Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 19/6/2024, Vàng A L đang ở nhà thì có chị Vàng Thị D, sinh năm 1985, trú tại bản Sàng Mà P, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu đến nhà và rủ L đi đến bản P, xã H, huyện P, tỉnh Lai Châu tìm mua ma túy để sử dụng. L đồng ý, L lấy chiếc ví (bên trong có chứa 01 gói Heroine mua được trước đó) mang đi để sử dụng, rồi lấy xe mô tô biển kiểm soát 25B1-080.61 chở D đi (D không biết L mang theo ma túy). Hồi 13 giờ 15 phút cùng ngày, khi L chở D đi đến K+200 Quốc lộ D thuộc địa phận bản P, xã H, huyện N, tỉnh Lai Châu thì gặp tổ công tác Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện N và Công an xã H yêu cầu dừng xe để kiểm tra, quá trình kiểm tra phát hiện trong chiếc ví để trong túi áo ngực trái của L có 01 gói Heroine được gói ngoài bằng mảnh nilon màu hồng có khối lượng 0,34 gam. Lùng khai nhận đó là H của L, mục đích để sử dụng. Tổ công tác mời người chứng kiến tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng theo quy định.
Tại Kết luận giám định số: 177, ngày 20/6/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc kết luận: “Số chất bột, màu trắng sau khi loại bỏ bao bì có khối lượng là 0,34 gam (không phẩy ba tư) gam Heroine, toàn bộ mẫu vật được gửi đi giám định tại Phòng K Công an tỉnh L.
Tại Bản kết luận giám định số: 829/KL-KTHS, ngày 24/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: 01 (một) Mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có tên khoa học là D1, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ - CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. (Không hoàn lại mẫu vật gửi giám định).
Tại bản Cáo trạng số: 33/CT-VKS-NN, ngày 08 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Vàng A L về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về Bản kết luận điều tra số 30/KLĐT ngày 11/9/2024 của Cơ quan CSĐT Công an huyện N và bản Cáo trạng nêu trên.
Tai phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát huyện Nậm Nhùn giữ nguyên quan điểm truy tố của mình đồng thời phân tích, đánh giá toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vàng A L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Vàng A L từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 19/6/2024. Áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự: Không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Đề nghị tịch thu tiêu hủy vỏ bì được đựng trong một phong bì thư do Công an huyện N phát hành; 01 (một) ví da màu nâu gồm 03 ngăn, ví đã qua sử dụng. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 25B1-080.61 nhãn hiệu HONDA WAVE RSX, màu sơn trắng - đen - xám - đỏ, số khung RLHJC5228CY697219, số máy JC52E5163050, dung tích xi lanh 109 cm³ (xe đã qua sử dụng không kiểm tra chi tiết bên trong); 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 003117, đứng tên Phan Xuân H1, cấp ngày 22/10/2012 do phòng C1 Công an tỉnh L cấp.
Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Nhùn.
Tại lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định của Cơ quan điều tra huyện N, Điều tra viên. Cơ quan Viện kiểm sát huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nội dung vụ án, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thu thập hợp pháp. Như vậy, có đủ cơ sở xác định: Vào hồi 13 giờ 15 phút, ngày 19/6/2024, tại K+200 Quốc lộ D thuộc địa phận bản P, xã H, huyện N, tỉnh Lai Châu, bị cáo Vàng A L đã có hành vi tàng trữ trái phép 01 (một) gói Heroine có khối lượng 0,34 gam (không phẩy ba tư) gam Heroine với mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện N và Công an xã H, huyện N, tỉnh Lai Châu phát hiện, bắt quả tang. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, quan điểm đề nghị về tội danh, mức hình phạt đối với bị cáo của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn nên cần được xử lý nghiêm minh.
[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Khi bị Công an huyện N, tỉnh Lai Châu phát hiện bắt quả tang có xét nghiệm chất ma túy thì bị cáo có sử dụng chất ma túy (dương tính).
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không có.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Xét thấy cần thiết phải có mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với 0,34 gam (không phẩy ba tư) gam Heroine thu giữ của bị cáo Vàng A L đã gửi toàn bộ đi giám định không hoàn lại nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
Đối với vỏ bì được đựng trong một phong bì thư do Công an huyện N phát hành. Mặt trước của bì niêm phong có ghi: Vỏ bì sau khi mở niêm phong vụ Vàng A L, sinh năm 1986, trú tại bản Sân Bay, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu - hành vi: Tàng trữ trái phép chất ma tuý bị bắt ngày 19/6/2024. Mặt sau của bì niêm phong các mép dán kín, trên mép dán của bì niêm phong dùng mảnh giấy trắng dán đè lên, trên mảnh giấy trắng thể hiện chữ ký, họ tên của: Lò Văn V, Vũ Mạnh H2, Đỗ Hoàng G, Nguyễn Thành Đ, Lò Văn L1, Vàng A L và đóng 02 hình dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, tỉnh Lai Châu ở hai mép dán; 01 (một) ví da màu nâu gồm 03 ngăn, ví đã qua sử dụng, đây là những vật chứng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy.
Đối với 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 25B1-080.61 nhãn hiệu HONDA WAVE RSX, màu sơn trắng - đen - xám - đỏ, số khung RLHJC5228CY697219, số máy JC52E5163050, dung tích xi lanh 109 cm³ (xe đã qua sử dụng không kiểm tra chi tiết bên trong); 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 003117, đứng tên Phan Xuân H1, cấp ngày 22/10/2012 do phòng C1 Công an tỉnh L cấp. Đây là xe của bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội, nên cân tịch thu sung quỹ Nhà nước.
[6] Những vấn đề liên quan:
Kết quả điều tra không xác định được lai lịch của người đàn ông đã bán ma túy cho Vàng A L nên không có căn cứ để xử lý theo quy định pháp luật;
Đối với Vàng Thị D, quá trình điều tra xác minh, D rủ L đi mua ma túy nhưng cả hai đều chưa mua được ma túy, khi đi cùng L thì D không biết L đang tàng trữ trái phép ma túy nên D không phạm tội.
[7] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, thuộc diện hộ nghèo, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
[8] Về biện pháp ngăn chặn: Căn cứ Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vàng A L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vàng A L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 19/6/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.
-
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy vỏ bì được đựng trong một phong bì thư do Công an huyện N phát hành; 01 (một) ví da màu nâu gồm 03 ngăn, ví đã qua sử dụng.
Tịch thu hoá giá nộp vào ngân sách Nhà nước 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 25B1-080.61 nhãn hiệu HONDA WAVE RSX, màu sơn trắng - đen - xám - đỏ, số khung RLHJC5228CY697219, số máy JC52E5163050, dung tích xi lanh 109 cm³ (xe đã qua sử dụng không kiểm tra chi tiết bên trong); 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 003117, đứng tên Phan Xuân H1, cấp ngày 22/10/2012 do phòng C1 Công an tỉnh L cấp.
cấp ngày 22/10/2012 do phòng C1 Công an tỉnh L cấp.
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo như biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 09 tháng 10 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu).
- Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm lên Toà án nhân dân cấp trên./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đồng Văn Dũng |
Bản án số 02/2024/HS-ST ngày 20/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NẬM NHÙN, TỈNH LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma túy (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 02/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NẬM NHÙN, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị Cáo Vàng A Lùng phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2025
