Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SÌN HỒ

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 02/2024/HSST

Ngày: 19/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Mạnh Trang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vàng A Măng; Ông Tẩn Phàn Pao .

Thư ký phiên toà: Ông Phùng Trung Sơn, Thư ký Toà án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Bà Lê Ngọc Trang, Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2024/TLST- HS, ngày 10 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2024/QĐXXST –HS, ngày 07 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Tẩn La U – Sinh năm:1969; sinh tại: S, tỉnh Lai Châu. Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: bản Tả Phìn, xã T, huyện S, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Đoàn, Đảng: không; Trình độ học vấn: 0/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Tẩn C – đã chết; Con bà: Phùng Mý L – đã chết; Bị cáo có vợ Chẻo Mý D – Sinh năm: 1976; Bị cáo có 03, con lớn nhất, sinh năm, 1994, con nhỏ nhất sinh năm: 2000. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/6/2024 đến nay - Có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Công H – Trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L – Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN;

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 22/6/2024, Tẩn La U đi uống Methadone tại Trung tâm y tế huyện S thì gặp Triệu Thị H1. Qua nói chuyện, U đưa cho H1 200.000 đồng, nhờ mua hộ Hồng phiến, H1 đồng ý. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, U đi đến nhà H1, H1 đưa cho U 01 gói Hồng phiến, được gói ngoài bằng mảnh ni lon màu đen. U cầm gói Hồng phiến đem về nhà chia nhỏ làm 02 phần: 01 phần U gói bằng mảnh ni lon màu đen, cất vào trong túi quần U đang mặc; 01 phần còn lại U bỏ vào lọ nhựa hình tròn được cuốn băng dính màu đen, giấu dưới gối đầu giường ngủ của U. Đến ngày 24/6/2024, Tẩn La U lấy gói Heroine được Tẩn A P cho trước đó chia làm 08 gói nhỏ, gói ngoài mỗi gói bằng mảnh ni lon màu xanh và gói chung 08 gói lại bằng mảnh ni lon màu đen, cất vào túi quần bên trái để sử dụng dần. Vào hồi 15 giờ 00 phút cùng ngày, U lấy 02 viên Hồng phiến từ túi quần bên trái để ở bàn với mục đích để sử dụng, thì bị Tổ công tác Công an huyện S phát hiện, thu giữ 02 viên nén màu hồng trên bàn; ngoài ra còn thu giữ trong túi quần bên trái đang mặc của U 02 gói ni lon màu đen. Trong đó, gói thứ nhất có 05 viên nén ( trong đó có 03 viên nén màu hồng, 02 viên nén màu xanh); Gói thứ hai có chứa 08 gói chất bột, màu trắng, ngoài mỗi gói được gói bằng mảnh ni lon màu xanh. Khám xét nơi ở của Tẩn L thu giữ 10 viên nén (trong đó có 06 viên nén màu xanh, 04 viên nén màu hồng) được đựng trong lọ nhựa hình tròn quấn băng dính màu đen. Tẩn La U khai nhận toàn bộ số viên nén màu hồng và viên nén màu xanh là ma túy (Hồ N), còn 08 gói chất bột màu trắng là Heroine của U, U tàng trữ để sử dụng.

Qua xác định khối lượng và giám định chất ma túy, tại kết luận giám định tư pháp số: 210 và 211, ngày 25/6/2024 của người giám định theo vụ việc, đã xác định 08 gói bột, màu trắng thu giữ của Tẩn La U có tổng khối lượng là 0,3 gam; 07 viên nén (05 viên nén màu hồng, 02 viên nén màu xanh) có tổng khối lượng là 0,64 gam; 10 viên nén (06 viên nén màu xanh, 04 viên nén màu hồng) có tổng khối lượng là 0,99 gam. Tại bản Kết luận giám định số: 848/GĐ-KTHS, ngày 27/6/2024 và Kết luận giám định số: 849/GĐ-KTHS, ngày 28/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Mẫu bột khô, màu trắng thu giữ của T La U gửi đến giám định là ma túy, loại Heroine. Mẫu viên nén màu hồng và màu xanh gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamin.

Cáo trạng số: 72/CT- VKS, ngày 10 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo T La U về tội “Tàng trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Tẩn La U phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS. Xử phạt bị cáo Tẩn La U từ 01 năm 08 tháng tù đến 02 năm tù. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 249 BLHS, đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

Về vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 46, khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a,c khoản 2 Điều 106 BLTTTHS: Tịch thu tiêu hủy gồm: 02 mảnh ni lon màu đen; 08 mảnh ni lon màu xanh và 01 lọ nhựa hình trụ tròn, bên ngoài được cuốn băng đính màu đen, đã qua sử dụng.

Về án phí hình sự sơ thẩm, đề nghị áp dụng Điều 135; Điều 136 BLTTHS, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Tẩn La U.

Người bào chữa cho bị cáo Tẩn La U, trình bày luận cứ bào chữa, người bào chữa nhất trí với luận tội và đề nghị của kiểm sát viên. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1, khoản 5 Điều 249 BLHS và các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS đối với bị cáo. Đề nghị xử xem xét giảm mức hình phạt cho bị cáo, miễn không áp dụng hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS cho bị cáo; đề nghị áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Tẩn La U.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố, lời khai của bị cáo phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp các tài liệu trong hồ sơ vụ án. Bị cáo nhất trí với luận cứ bào chữa của người bào chữa, không có ý kiến bổ sung; Bị cáo nhất trí luận tội và đề nghị của kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận, không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN;

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra Công an huyện S, tỉnh Lai Châu, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu và Điều tra viên, Kiểm sát viên được phân công điều tra, truy tố, trong quá trình thực hiện đã tuân thủ đúng theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự; Người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa đã chấp hành nghiêm túc, thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của người bào chữa. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và của người bào chữa. Hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người bào chữa trong vụ án đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[ 2 ] Về hành vi phạm tội của bị cáo nhận thấy: Vào hồi 15 giờ 46 phút, ngày 24/6/2024, tại nhà của Tẩn L, tại bản T, xã T, huyện S, tỉnh Lai Châu, Công an xã T, huyện S phát hiện bắt quả tang Tẩn La U đang có hành vi tàng trữ 08 gói Heroine có khối lượng 0,3 gam và 17 viên Methamphetamine có tổng khối lượng 1,63 gam (tổng khối lượng Heroine và Methamphetamine của Tẩn L tàng trữ là 1,93 gam), Tẩn L tàng trữ Heroine và Methamphetamine với mục đích để sử dụng,. Như vậy, khẳng định hành vi tàng trữ 0,3 gam Heroine và 1,63 gam Methamphetamin của Tẩn La U đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS. Do vậy, Cáo trạng số: 72/CT – VKS, ngày 10 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ truy tố đối với Tẩn La U tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[ 3 ] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhận thấy, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ việc tàng trữ H2 và M là vi phạm pháp luật, nhưng do bị cáo là người nghiện chất ma túy, nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện, bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm vào chính sách độc quyền về quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Do vậy, cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc, xử phạt tù đối với bị cáo để dăn đe, giáo dục đối với bị cáo và cũng là để phòng, chống các loại tội phạm, đặc biệt là các tội phạm về ma túy tại địa phương. Tuy nhiên, khi xem xét mức hình phạt cần phải xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo là người nghiện chất ma túy.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS cần được áp dụng cho bị cáo; bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ học vấn thấp, nhận thức pháp luật còn có hạn chế nhất định, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS cần được áp dụng cho bị cáo.

[ 4 ] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ và tại phiên tòa, xét thấy, bị cáo là người lao động tự do, nghiện chất ma túy, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có điều kiện thi hành, Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[ 5 ] Về vật chứng: Đối với 02 mảnh ni lon màu đen, 08 mảnh ni lon màu xanh và 01 lọ nhựa hình trụ tròn, bên ngoài được cuốn băng dính màu đen, đây là công cụ dùng vào việc phạm tội, cần phải tịch thu tiêu hủy.

[ 6 ] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn, áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn 200.000 đồng án phí hình sơ thẩm cho bị cáo.

Các vấn đề khác trong vụ án: Theo lời khai của Tẩn La U số Heroine bị thu giữ là do Tẩn A P cho vào giữa tháng 6 năm 2024 và Số Methamphetamine mua là do Tẩn La U mua của Triệu Thị H1. Quá trình điều tra, Tẩn A P, không thừa nhận đã cho T La U Heroine, Triệu Thị H1 không thừa nhận đã bán M cho Tẩn La U, ngoài lời khai của Tẩn La U không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh, nên không đủ căn cứ để xử lý đối với Tẩn A P và Triệu Thị H1.

Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên và ý kiến của người bào chữa là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH;

Áp dụng Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Tẩn La U phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Tẩn La U 02 (hai ) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tạm giữ, tạm giam là ngày 24/6/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy gồm: 02 mảnh ni lon màu đen, 08 mảnh ni lon màu xanh và 01 lọ nhựa hình trụ tròn, bên ngoài được cuốn băng dính màu đen. (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện S, tỉnh Lai Châu và Chi cục thi hành án dân sự huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu ngày 17/10/2024).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Miễn 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Tẩn La U.

Án xử công khai, có mặt bị cáo, bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án lên Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu để xem xét theo thủ tục phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu;
  • - Công an huyện Sìn Hồ;
  • - VKSND huyện Sìn Hồ;
  • - Thi hành án hình sự CA huyện Sìn Hồ;
  • - Thi hành án dân sự huyện Sìn Hồ;
  • - Bị cáo; Người bào chữa;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2024/HSST ngày 19/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 02/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tẩn La U tàng trư trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger