Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MƯỜNG TÈ

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2024/HSST

Ngày: 07/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, ông: Lò Xuân Hải.

Các hội thẩm nhân dân:

Ông: Lù Thanh Xá.

Bà: Lý Thị The.

- Thư ký phiên tòa, bà: Lâm Thị Tuyết - Thư ký Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh L.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M tham gia phiên tòa, bà: Lò Thị Kẻo - Kiểm sát viên.

Trong ngày 07 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh L, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2024/TL-ST-HS, ngày 04 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2024/QĐXXST-HS, ngày 25 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo.

- Thàng Xé P: Giới tính: Nữ; tên gọi khác: Không; sinh ngày 15/12/1980; tại: Xã N, huyện M, tỉnh L; nơi thường trú: Bản H, xã N, huyện M, tỉnh L; nơi ở hiện tại: Bản H, xã N, huyện M, tỉnh L; số CCCD: [...] ; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 0/12, không biết chữ; dân tộc: La Hủ; tôn giáo: Không; đảng, đoàn: Không; con ông Thàng A L ( đã chết) và con bà Lò Mỳ L, sinh năm 1958; chồng Pờ Go H (đã chết); con: Có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1997, con nhỏ nhất sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân chưa bị xử lý; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/06/2024 cho đên nay. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện M, tỉnh L - Có mặt.

- Người làm chứng:

  • +. Anh: Hoàng Chí D - Sinh năm 1984 - Trú tại: Bản H, xã N, huyện M, tỉnh L - Vắng mặt.
  • +. Anh: Vàng Xé C - Sinh năm 1995 - Trú tại: Bản H, xã N, huyện M, tỉnh L - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 11 giờ, ngày 07/06/2024, Thàng Xé P, đi bộ từ bản H đến khu vực khe Huổi Đít thuộc địa phận xã N, huyện M, tỉnh L, để lấy măng rừng, khi P đang lấy măng trong rừng thì gặp một người phụ nữ dân tộc La Hủ lạ mặt, đang sử dụng ma túy, P đi lại gần và hỏi mua Heroine với mục đích là đem về sử dụng, thì được người phụ nữ này bán cho P, 01 gói Heroine (bên ngoài được gói bằng mảnh nilon màu trắng) với giá 100.000 đồng. P cất giấu gói Heroine vào trong túi áo bên phải đang mặc trên người, khi lấy măng xong thì P quay về nhà. Đến sáng ngày 08/06/2024, trên đường đi từ nhà ra Trạm y tế xã N để uống Methadone, thì P gặp Hoàng Chí D đang điều khiển xe máy chở Vàng Xé C, P đã xin đi nhờ, D đồng ý, khi đang trên đường đi, do lo sợ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình bị phát hiện nên P đã lấy gói Heroine từ trong túi áo ra cất giấu vào trong âm đạo của P (quá trình P thực hiện hành vi cất giấu gói Heroine thì D và C không biết). Vào hồi 09 giờ 30 phút cùng ngày 08/06/2024, khi D, C và P đi đến khu vực cổng trụ sở Công an xã N thuộc bản L, xã N, huyện M, tỉnh L, thì gặp tổ công tác Công an xã N đang tuần tra, kiểm soát yêu cầu dừng xe và đưa về trụ sở Công an xã N để kiểm tra. Quá trình kiểm tra người của Thàng Xé P, đã phát hiện, thu giữ bên trong âm đạo của P, 01 gói Heroine như đã mô tả ở trên. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ, niêm phong toàn bộ vật chứng theo quy định của pháp luật.

Tại kết luận giám định số: 67/KLGĐ-CA, ngày 08/06/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc Công an huyện M, kết luận: 01 mẫu chất bột khô, màu trắng thu giữ của Thàng Xé P có khối lượng là 0,29 gam.

Tại bản kết luận giám định số: 723/GĐ-KTHS ngày 14/06/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh L, kết luận: 01 mẫu chất bột khô, màu trắng thu giữ của Thàng Xé P, gửi đến giám định là ma túy, loại Heroine.

Tại bản cáo trạng số: 84/CT-VKS-MT ngày 03 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M đã truy tố Thàng Xé P về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xử lý:

- Trách nhiệm hình sự: Đối với Thàng Xé P về tội danh "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

- Về hình phạt chính: Áp dụng Điều 38; Điều 50; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Thàng Xé P, từ: 01 năm 02 tháng đến 01 năm 08 tháng tù, về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, do điều kiện kinh tế của bị cáo.

- Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy:

  • +. 01 mảnh nilon màu trắng;
  • +. 01 phong bì công văn màu trắng do Công an xã N phát hành, đã bị cắt một đầu.
  • +. Đối với 0,29 gam Heroine. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M đã giử toàn bộ đi giám định, không hoàn lại mẫu vật giám định, nên không đề cập xử lý.

- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Thàng Xé P.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa việc bị cáo khai báo là hoàn toàn tự nguyện, không bị mớm cung, ép cung, bị cáo không khiếu nại gì về quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Sau khi tranh luận Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên mức hình phạt chính như đã đề nghị. Lời nói sau cùng bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được cơ quan tiến hành tố tụng thu thập có trong hồ sơ vụ án như vậy có đủ cơ sở để kết luận: Vào hồi 09 giờ 30 phút, ngày 08/06/2024 tại bản L, xã N, huyện M, tỉnh L, khoảng 100m. Thàng Xé P, đang có hành vi cất giấu trái phép 0,29 gam Heroine, với mục đích để sử dụng cho bản thân, thì bị tổ công tác Công an xã N, huyện M, tỉnh L phát hiện, bắt quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện M đã truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội. Bị cáo không khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đều hợp pháp, đúng pháp luật.

[2]. Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, bị cáo hiểu được điều đó nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nhằm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội và gia đình. Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[3]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo Thàng Xé P luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần được xem xét áp dụng cho bị cáo. Nhận thấy: Bị cáo là người phụ nữ dân tộc thiểu số La Hủ, nhận thức pháp luật còn hạn chế, gia đình là hộ nghèo sinh sống ở bản H, xã N, thuộc huyện M, tỉnh L, là huyện biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần được xem xét áp dụng cho bị cáo.

[4]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Thàng Xé P không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

[5]. Về nhân thân: Bị cáo Thàng Xé P có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, từ nhỏ không được đi học, lớn lên ở nhà tham gia lao động sản xuất tại địa phương, nhận thức pháp luật hạn chế, là người sử dụng chất ma túy. Bị cáo nhận thức rõ được hành vi tàng trữ chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vì mục đích thỏa mãn nhu cầu sử dụng chất ma túy của bản thân nên đã cố ý phạm tội.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 triệu đồng, xét thấy: Bị cáo là người phụ nữ dân tộc thiểu số La Hủ, nghề nghiệp trồng trọt, gia đình là hộ nghèo sinh sống ở bản H, xã N, thuộc huyện M, tỉnh L là huyện biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

[7]. Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ số vật chứng thu giữ còn lại của bị cáo Thàng Xé P, bao gồm:

  • - 01 mảnh nilon màu trắng;
  • - 01 phong bì công văn màu trắng do Công an xã N phát hành, đã bị cắt một đầu;
  • - Đối với 0,29 gam Heroine. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M đã giử toàn bộ đi giám định, không hoàn lại mẫu vật giám định, nên không đề cập xử lý. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[8]. Về án phí hình sự sơ thẩm, xét thấy: Bị cáo là người phụ nữ dân tộc thiểu số La Hủ, nghề nghiệp trồng trọt, gia đình là hộ nghèo sinh sống ở bản H, xã N, thuộc huyện M, tỉnh L là huyện biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Áp dụng Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật cho bị cáo.

[9]. Từ những phân tích như trên, Hội đồng xét xử có cơ sở khách quan và căn cứ pháp lý để kết luận: Bị cáo Thàng Xé P đã phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do vậy ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa về: Tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự; xử lý vật chứng; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự; miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo là có cơ sở đúng quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận.

[10]. Đối với người phụ nữ dân tộc La Hủ lạ mặt, đã bán 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng cho bị cáo Thàng Xé P. Trong qúa trình điều tra không xác định được lai lịch của người phụ nữ này nên không đủ căn cứ để xử lý. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[11]. Đối với Hoàng Chí D và Vàng Xé C. Do Dũng và Chừ không biết việc Thàng Xé P tàng trữ trái phép chất ma túy, nên D và C không phạm tội. Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh L, không truy tố đối với Hoàng Chí D và Vàng Xé C. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

- Tuyên bố bị cáo: Thàng Xé P phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

- Căn cứ vào Điều 38; Điều 50; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Thàng Xé P: 01 năm 07 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo Thàng Xé P, bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 08/06/2024.

- Về hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự: Không áp dụng đối với bị cáo Thàng Xé P.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy toàn bộ vật chứng thu giữ còn lại của bị cáo Thàng Xé P, bao gồm:

  • +. 01 mảnh nilon màu trắng;
  • +. 01 phong bì công văn màu trắng do Công an xã N phát hành, đã bị cắt một đầu;
  • +. Đối với 0,29 gam Heroine. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M đã gửi toàn bộ đi giám định, không hoàn lại mẫu vật giám định, nên không đề cập xử lý. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Thàng Xé P.

- Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận

  • - TAND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND huyện M.Tè;
  • - Công an huyện M.Tè;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện M.Tè;
  • - Trại giam;
  • - Chi cục THADS huyện M.Tè;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ VA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Lò Xuân Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2024/HSST ngày 07/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 02/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Thàng Xé P phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger