|
TAND HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 02/2024/HS-ST Ngày 05-11-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Oanh.
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Nam Giang.
2. Ông Nguyễn Văn Quang.
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thuý Phượng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2024/TLST - HS ngày 02 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lìm Văn T, sinh ngày 21/06/2004 tại huyện T, tỉnh Lai Châu.
Nơi cư trú: Bản C, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lìm Văn Ơ, sinh năm: 1971 và bà Hoàng Thị M, sinh năm 1980; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 13/6/2024 đến ngày 19/6/2024 bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Lai Châu đến nay, bị cáo có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Theo lời khai của Lìm Văn T: Vào khoảng 13 giờ ngày 13/6/2024, Lìm Văn T đi bộ từ nhà xuống nhà của Lò Văn T1, sinh năm 2004, trú tại bản Tạng Đán, xã T, huyện T để rủ T1 đi mua H cùng nhau sử dụng thì T1 đồng ý và T1 nói có 100.000 đồng, sau đó T và T1 cùng nhau đi bộ lên khu vực chợ T3 Tổ dân phố A, thị trấn T, huyện T. Khi đi đến khu vực chợ, T và T1 đi bộ ra đoạn đường phía sau chợ thì gặp và mua được 01 gói Heroin lớp bên ngoài được gói bằng 01 mảnh nilon màu hồng, lớp bên trong được gói bằng 01 mảnh giấy bạc một mặt màu vàng một mặt màu trắng của một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch với số tiền 100.000 đồng (tiền của T1). Sau khi mua được H, T cất giấu gói Heroin ở trong lòng bàn tay trái, sau đó T1 rủ T đi vào khu nhà đang xây ở phía sau chợ để cùng nhau sử dụng Heroin thì T đồng ý. Sau đó T và T1 cùng nhau đi vào trong 01 tòa nhà đang xây dựng không có người trông coi và đi lên trên khu vực tầng 2 để cùng nhau sử dụng Heroin.
Hồi 14 giờ 25 phút cùng ngày, khi lên đến tầng 2, T mở gói Heroin ra, cầm cục H2 ở tay phải và chuẩn bị sử dụng cùng với T1 thì bị lực lượng Công an huyện T đang làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát vào kiểm tra phát hiện. Lúc này T đã dùng tay phải ném cục H2 ra bên ngoài qua cửa sổ, tuy nhiên cục H2 đã rơi trên thành cửa sổ gần đó, cùng lúc này thì T1 đã bỏ chạy thoát. Sau đó T bị lực lượng Công an bắt giữ, đồng thời tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, khám nghiệm hiện trường, thu giữ niêm phong trên thành cửa sổ 01 cục H2 có khối lượng 0,14 gam (Tại hiện trường T xác nhận đúng cục H2 mà T vừa ném mục đích nhằm để tiêu hủy vật chứng); 01 mảnh giấy bạc một mặt màu vàng một mặt màu trắng, đồng thời phát hiện thu giữ dưới mặt sàn căn phòng 01 mảnh nilon màu hồng.
Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã tiến hành triệu tập, lấy lời khai đối với Lò Văn T1, đồng thời tiến hành đối chất giữa Lìm Văn T và Lò Văn T1 nhưng T1 không thừa nhận việc đã cùng T đi mua và tàng trữ Heroin.
Ngày 13/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã thành lập hội đồng mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu vật giám định và niêm phong vật chứng. Tại bản kết luận giám định số 34/KL-TCGĐ ngày 13/6/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc thuộc Công an huyện T, kết luận: Vật chứng nghi là chất ma túy thu giữ của Lìm Văn T có khối lượng 0,14 gam (không phẩy mười bốn gam).
Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trích toàn bộ 0,14 gam chất bột, màu trắng thu giữ của Lìm Văn T theo T khai nhận là H gửi giám định. Tại bản Kết luận giám định số: 754/KL-KTHS ngày 15/6/2024, của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Bản Cáo trạng số 79/CT-VKS-TU, ngày 02/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên để xét xử Lìm Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lìm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Lìm Văn T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh giấy bạc một mặt màu vàng một mặt màu trắng; 01 mảnh nilon màu hồng.
Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Bị cáo đồng ý với bản Cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có tranh luận gì.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, tỉnh Lai Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên tỉnh Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Lìm Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:
Hồi 14 giờ 25 phút, ngày 13/6/2024, tại Tổ dân phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu, Lìm Văn T đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,14 gam Heroin với mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang.
Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, tuy nhiên vì muốn có ma túy để sử dụng nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo Lìm Văn T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Vụ án có tính chất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo không những làm mất trật tự an toàn xã hội trên địa bàn mà còn làm ảnh hưởng đến đời sống sức khỏe con người, làm gia tăng tệ nạn và các loại tội phạm khác nên cần được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lìm Văn T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Trên cơ sở tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian trên mức khởi điểm của khung hình phạt đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đảm bảo tính răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo là lao động tự do, không có việc làm và thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng: 0,14 gam Heroin đã gửi toàn bộ đi giám định, không hoàn lại mẫu vật nên không đặt ra để xem xét; 01 mảnh giấy bạc một mặt màu vàng một mặt màu trắng; 01 mảnh nilon màu hồng là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, xét thấy không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
[6] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[8] Các đối tượng hành vi liên quan đến vụ án:
- Về nguồn gốc số Heroin bị thu giữ, Lìm Văn T khai do bị cáo cùng với Lò Văn T1 mua của một người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch tại khu vực phía sau chợ thuộc Tổ dân phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu. Quá trình điều tra không xác định được người đàn ông này nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.
- Theo lời khai của bị cáo Lìm Văn T, ngày 13/6/2024 bị cáo cùng với Lò Văn T1 dùng số tiền 100.000 đồng của T1 đi mua Heroin để cùng nhau sử dụng. Quá trình điều tra, Lò Văn T1 không thừa nhận, ngoài lời khai duy nhất của Lìm Văn T thì không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh hành vi đồng phạm của T1, vì vậy không có căn cứ để xử lý đối với Lò Văn T1.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Về điều luật áp dụng và tội danh: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Lìm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Lìm Văn T 01 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/6/2024.
-
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì công văn của Công an huyện T phát hành, bên trong 01 mảnh giấy bạc một mặt màu vàng, một mặt màu trắng; 01 mảnh nilon màu hồng. Trên phong bì có ghi “Vật chứng thu giữ của Lìm Văn T, sinh năm sinh năm 2004, hành vi: Tàng trữ trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 13/6/2024, tại thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu”; có chữ ký ghi rõ họ tên của Lò Thanh H1, Nguyễn Thị T2, Hảng A, Nguyễn Văn L, Lìm Văn T.
(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng hồi 16 giờ 00 phút, ngày 08/10/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu).
-
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lìm Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Oanh |
Bản án số 02/2024/HS-ST ngày 05/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 02/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 249 BLHS
