Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TÂN CHÂU

TỈNH AN GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số: 02/2024/HS-ST

Ngày 30 tháng 10 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Trường Vũ và bà Cù Thị Ngọc Thảo.

Thư ký phiên toà: Ông Ngô Tấn Bửu - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Khánh Vi - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 10 năm 2024, tại điểm cầu Trung tâm phòng xử án Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu với điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an thị xã T, Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 69/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 72/2024/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

Trần Quang H, sinh ngày 15/11/1995, tại An Giang; nơi đăng ký thường trú (chỗ ở hiện nay): Tổ 15, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Trần Quang V và bà Đỗ Thị T; vợ tên Hồ Thị Mỹ Q; có một người con sinh năm 2019; tiền án: Không; tiền sự: ngày 29/5/2024, bị cáo H bị Công an thị xã T xử phạt vi phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản số tiền 2.500.000 đồng, chưa nộp phạt; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/8/2024 cho đến nay (có mặt).

Bị hại: Trường M; Trụ sở: Đường T, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang. Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Tuyết P – Chức vụ: Hiệu trưởng địa chỉ liên hệ: Đường T, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang (vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Bà Lê Thị Tuyết T1, sinh năm 1968; Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang (vắng mặt);

- Bà Đỗ Thị T, sinh năm 1967; Nơi cư trú: Khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài, khoảng 23 giờ ngày 09/8/2024, bị cáo Trần Quang H chuẩn bị 01 cây kiềm, chạy xe đạp đi tìm tài sản lấy trộm, khi đến Trường M thuộc khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang, nhìn thấy nhiều quạt điện lắp trước hành lang dãy phòng học, không người trông giữ. Bị cáo H dựng xe đạp bên ngoài, đột nhập vào khuôn viên trường, đi đến trước phòng học lớp lá 1, dùng kiềm cắt dây điện và tháo gỡ lấy trộm 01 cây quạt điện, đem về nhà cất giấu. Đến 06 giờ sáng ngày 10/8/2024, bị cáo H đem quạt bán cho Lê Thị Tuyết T1 (tên gọi khác bà T2) với giá 100.000 đồng, tiêu xài cá nhân hết. Ngày 11/8/2024, bà Nguyễn Thị Tuyết P là Hiệu trưởng Trường M phát hiện bị mất trộm 01 cây quạt điện, trình báo sự việc. Qua kiểm tra, xác minh, Công an mời bị cáo H về làm việc, bị cáo H khai nhận hành vi nêu trên.

Kết quả xác minh: Ngày 29/5/2024, bị cáo Trần Quang H đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản số tiền 2.500.000 đồng, chưa nộp phạt.

Ngày 11/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã T, đã khởi tố, Trần Quang H về tội “Trộm cắp tài sản”.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: 01 (một) cây quạt điện, loại quạt treo tường, khung bằng kim loại sơn màu đen, cánh quạt bằng nhựa cứng màu cam đường kính 40 cm, nhãn hiệu LIFAN (đã trao trả cho chủ sở hữu); 01 (một) cây kiềm bằng kim loại màu đen, chiều dài 20,5 cm chiều rộng 5,2 cm, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc xe đạp kiểu nữ, mini, màu xanh dương, có rổ bằng nhựa màu xám phía trước đầu xe, đã qua sử dụng; 01 (một) cái áo thun tay ngắn, màu đen, có cổ áo và có sọc màu xám bên trái đã qua sử dụng; 01 (một) cái quần thun, loại quần đùi, màu đen, có sọc ngang màu xám, đã qua sử dụng; 01 (một) cái nón kết bằng vãi, màu xám, có chữ PROPEFY OF CITY BOSTON, đã qua sử dụng.

Kết luận định giá tài sản số 896/KL-HDDG-TTHS ngày 11/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản, trong tố tụng hình sự thị xã T, kết luận: 01 (một) cây quạt điện, loại quạt treo tường, khung bằng kim loại sơn màu đen, cánh quạt bằng nhựa cứng màu cam đường kính 40 cm, nhãn hiệu LIFAN, đã qua sử dụng vào ngày 09/8/2024 có giá trị: 120.000đ (một trăm hai mươi nghìn đồng).

Kết quả khám nghiệm hiện trường và bản ảnh đã lưu giữ phù hợp với nội dung vụ án đã nêu trên.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trường M (có bà Nguyễn Thị Tuyết P đại diện theo pháp luật), người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Tuyết T1, không yêu cầu bị cáo bồi thường.

Trần Văn B, Trần Văn V1, S, Trương Thanh H1 Cáo trạng số 71/CT-VKSTC ngày 08/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo H vẫn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu trên, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà T giữ nguyên lời trình bày giai đoạn điều tra phù hợp với nội dung vụ án, yêu cầu nhận lại chiếc xe đạp kiểu nữ, mini, màu xanh dương, có rồ bằng nhựa màu xám phía trước đầu xe, đã qua sử dụng.

Bị hại Trường M (có bà Nguyễn Thị Tuyết P đại diện theo pháp luật), người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Tuyết T1 vắng mặt nhưng quá trình điều tra đều khai nhận phù hợp với nội dung vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo H từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù. Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cây kiềm bằng kim loại màu đen, chiều dài 20,5 cm chiều rộng 5,2 cm, đã qua sử dụng; 01 (một) cái áo thun tay ngắn, màu đen, có cổ áo và có sọc màu xám bên trái đã qua sử dụng; 01 (một) cái quần thun, loại quần đùi, màu đen, có sọc ngang màu xám, đã qua sử dụng; 01 (một) cái nón kết bằng vãi, màu xám, có chữ PROPEFY OF CITY BOSTON, đã qua sử dụng; Giao trả cho bà Đỗ Thị T 01 (một) chiếc xe đạp kiểu nữ, mini, màu xanh dương, có rổ bằng nhựa màu xám phía trước đầu xe, đã qua sử dụng. Về trách nhiệm dân sự, bị hại đã nhận được tài sản bị chiếm đoạt và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà T1, không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đề nghị xem xét, giải quyết.

Bị cáo H không có tranh luận và bào chữa gì, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: - Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

- Tại phiên tòa bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà T1 vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Ngày 29/5/2024, bị cáo Trần Quang H đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản số tiền 2.500.000 đồng (chưa nộp phạt) chưa được xóa tiền sự. Vào khoảng 23 giờ ngày 09/8/2024, tại Trường M thuộc khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang bị cáo Trần Quang H tiếp tục có hành vi lấy trộm 01 (một) cây quạt điện, loại quạt treo tường, khung bằng kim loại sơn màu đen, cánh quạt bằng nhựa cứng màu cam đường kính 40cm, nhân hiệu LIFAN, đã qua sử dụng, có giá trị: 120.000đ (Một trăm hai mươi nghìn đồng).

Hành vi nêu trên của bị cáo H đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm (tội phạm ít nghiêm trọng).

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác và trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo H là người đã thành niên, bản thân có sức khỏe và có hiểu biết nhất định về pháp luật nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện để làm ăn chân chính và hướng thiện. Trong vụ án này, hành vi của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, động cơ mục đích của tội phạm là chiếm đoạt được tài sản để tiêu dùng cá nhân.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo thuộc thành phần lao động, trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế đây là các tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nhưng bị cáo có nhân thân xấu đã bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản và bản thân bị cáo là người sử dụng ma túy. Xét, phải có mức hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo với bên ngoài xã hội trong thời gian nhất định để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử, chấp nhận.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 50.000.000đ. Xét thấy, bị cáo không có tài sản, nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trường M (có bà Nguyễn Thị Tuyết P đại diện theo pháp luật), người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Tuyết T1, không yêu cầu bị cáo bồi thường, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết tiếp.

[7] Về vật chứng: Đối với 01 (một) cây kiềm bằng kim loại màu đen, chiều dài 20,5 cm chiều rộng 5,2 cm, đã qua sử dụng; 01 (một) cái quần thun, loại quần đùi, màu đen, có sọc ngang màu xám, đã qua sử dụng; 01 (một) cái nón kết bằng vải, màu xám, có chữ PROPEFY OF CITY BOSTON, đã qua sử dụng, liên quan đến việc phạm tội, không có giá trị sử dụng. Xét, tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 (một) chiếc xe đạp kiểu nữ, mini, màu xanh dương, có rổ bằng nhựa màu xám phía trước đầu xe, đã qua sử dụng, của bà T, bà T không biết việc bị cáo Huy dung vào việc phạm tội và có yêu cầu nhận lại. Xét, giao trả cho bà T.

[8] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Quang H phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trần Quang H 09 (chín) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 11/8/2024).

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Giao trả cho bà Đỗ Thị T: 01 (một) chiếc xe đạp kiểu nữ, mini, màu xanh dương, có rổ bằng nhựa màu xám phía trước đầu xe, đã qua sử dụng. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cây kiềm bằng kim loại màu đen, chiều dài 20,5 cm chiều rộng 5,2 cm, đã qua sử dụng; 01 (một) cái quần thun, loại quần đùi, màu đen, có sọc ngang màu xám, đã qua sử dụng; 01 (một) cái nón kết bằng vải, màu xám, có chữ PROPEFY OF CITY BOSTON, đã qua sử dụng.

(Đặc điểm tang vật như biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Điều tra - Công an thị xã T với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu, ngày 11/10/2024).

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Quang H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Căn cứ Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh (1);
  • - Viện KSND tỉnh (1);
  • - Sở Tư pháp (1);
  • - Viện KSND thị xã (1);
  • - Chi cục Thi hành án DS thị xã (1);
  • - Bộ phận THA Tòa án (1);
  • - Nhà Tạm giam (1);
  • - Phòng hồ sơ (1);
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà

Nguyễn Thị Thùy Dương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2024/HS-ST ngày 30/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 02/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Quang H có hành vi trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger