|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN TỈNH QUẢNG NGÃI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 02/2024/HS-ST
Ngày 29/10/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Kiều Trung.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Chí Cường.
- Ông Bùi Tấn Sinh.
Thư ký phiên tòa: Ông Trương Quang Bình, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Ánh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 01/2024/HSST, ngày 01 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 207/2024/QĐXXST-HS, ngày 08 tháng 10 năm 2024, đối với:
1. Bị cáo:
1.1. Võ Minh H, sinh ngày 16 tháng 4 năm 1983 tại tỉnh Quảng Ngãi; căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 14/8/2021; nơi cư trú: Thôn L, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: Lái xe; con ông Võ Thanh T, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1963; có vợ là Nguyễn Thị V, sinh năm 1984, có 02 người con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chăn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
1.2. Huỳnh C2, sinh ngày 30 tháng 7 năm 1992 tại tỉnh Quảng Ngãi; căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 28/6/2021; nơi cư trú: Thôn C, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lái xe; con ông Huỳnh C, sinh năm 1973 và bà Phan Thị N, sinh năm 1972; có vợ là Cù Thị Kim V1, sinh năm 1993; có 02 người con, lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chăn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
1.3. Nguyễn Thanh T1, sinh ngày 19 tháng 12 năm 1997 tại tỉnh Quảng Ngãi; căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 18/8/2021; nơi cư trú: Thôn P, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lái xe; con ông Nguyễn Văn C1, sinh năm 1962 và bà Phạm Thị L1, sinh năm 1966; có vợ là Lê Hồng N1, sinh năm 2001, có 01 người con sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chăn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
1.4. Nguyễn Văn T2, sinh ngày 10 tháng 12 năm 1997 tại tỉnh Quảng Ngãi; căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 10/8/2021; nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lái xe; con ông Nguyễn V2, sinh năm 1971 và bà Trần Thị N2, sinh năm 1972; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chăn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
1.5. Phạm V3, sinh ngày 17 tháng 8 năm 1997 tại tỉnh Quảng Ngãi; căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 10/8/2021; nơi cư trú: Thôn L, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lái xe; con ông Phạm P, sinh năm 1968 và bà Phạm Thị H1, sinh năm 1969; có vợ là Nguyễn Thị Thảo Q, sinh năm 1997, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chăn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
1.6. Trịnh Văn Q1, sinh ngày 09 tháng 11 năm 1981 tại tỉnh Quảng Ngãi; căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 01/6/2021; nơi cư trú: Thôn P, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lái xe; con ông Trịnh Văn M, sinh năm 1954 và bà Huỳnh Thị L2, sinh năm 1959; có vợ là Đỗ Thị Mỹ H2, sinh năm 1982, có 02 người con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 27/9/2020, bị Công an xã B xử phạt với số tiền 1.500.000 đồng (một triệu, năm trăm nghìn đồng) về hành vi đánh bạc trái phép theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 37/QĐ-XPHC; đến ngày 02/10/2020 đã chấp hành xong quyết định xử phạt. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chăn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Ngô Thị T3, sinh năm 1967; nơi cư trú: Tổ dân phố E, thị trấn C, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt tại phiên tòa.
3. Người làm chứng:
- Anh Hồ Thanh S, sinh năm 1984; nơi cư trú: Tổ dân phố D, thị trấn C, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt tại phiên tòa.
- Anh Nguyễn Thanh S1, sinh năm 1992; nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt tại phiên tòa.
- Anh Võ Minh T4, sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn L, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 15 phút ngày 27/12/2023, các bị cáo: Võ Minh H, Huỳnh C2, Nguyễn Thanh T1, Nguyễn Văn T2, Phạm V3 và Trịnh Văn Q1 đến quán C3 thuộc tổ dân phố D, thị trấn C, huyện B do bà Nguyễn Thị T5, sinh năm 1967; cư trú tại: Tổ dân phố E, thị trấn C, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi làm chủ để uống cafe. Tại đây, các bị cáo rủ nhau xóc bầu cua thắng thua bằng tiền, bằng ứng dụng xóc bầu cua cài đặt trên điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy A52S 5G của bị cáo H thì tất cả đồng ý. Sau đó, Võ Minh H xóc bầu cua cho Huỳnh C2, Nguyễn Thanh T1, Nguyễn Văn T2, Phạm V3 và Trịnh Văn Q1 đặt cược, số tiền đặt cược từ 10.000 đồng đến 50.000 đồng/lượt.
Trong quá trình đánh bạc, ngoài Võ Minh H xóc bầu cua, vừa cầm cái chung tiền thì bất kỳ người tham gia đánh bạc nào cũng có thể mở bầu cua để thắng thua với những người tham gia đánh bạc khác. Mặt khác, những người tham gia đánh bạc còn tả tiền (có nghĩa là chuyển tiền từ mặt này qua mặt khác) của người tham gia đánh bạc khác để thắng thua dựa trên kết quả Võ Minh H xóc bầu cua qua nhiều ván. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, trong lúc các bị cáo đang đánh bạc thì bị Công an thị trấn C phát hiện, lập biên bản. Quá trình điều tra vụ án xác định:
- Võ Minh H mang theo số tiền là 200.000 đồng dùng vào việc đánh bạc, khi bị Công an thị trấn C kiểm tra thì thắng được 200.000 đồng nên tạm giữ trên người số tiền là 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng).
- Huỳnh C2 mang theo số tiền là 2.107.000 đồng dùng vào việc đánh bạc, khi bị Công an thị trấn C kiểm tra thì thắng được 400.000 đồng nên tạm giữ trên người số tiền là 2.507.000 đồng (hai triệu, năm trăm lẻ bảy nghìn đồng).
- Phạm V3 mang theo số tiền 1.550.000 đồng dùng vào việc đánh bạc, khi Công an thị trấn C kiểm tra thì đã thua 50.000 đồng nên tạm giữ trên người là số tiền 1.500.000 đồng (một triệu, năm trăm nghìn đồng).
- Nguyễn Thanh T1 mang theo 3.500.000 đồng dùng vào việc đánh bạc, khi bị Công an thị trấn C kiểm tra thì thắng 1.359.000 đồng nên tạm giữ trên người số tiền là 4.859.000 đồng (bốn triệu, tám trăm năm mươi chín nghìn đồng).
- Nguyễn Văn T2 mang theo 400.000 đồng dùng vào việc đánh bạc, khi bị Công an thị trấn C kiểm tra thì thua 167.000 đồng nên tạm giữ trên người số tiền là 233.000 đồng (hai trăm ba mươi ba nghìn đồng).
- Trịnh Văn Q1 không nhớ đem theo bao nhiêu để đánh bạc, nhưng khi Công an kiểm tra thì tạm giữ trên người của Q1 số tiền là 585.000 đồng (năm trăm tám mươi lăm nghìn đồng).
Đối với số tiền 1.800.000 đồng: Trong quá trình điều tra vụ án xác định, ngoài các bị cáo thì còn có chủ quán cà phê M1 và những người làm chứng có mặt tại quán cà phê, tuy nhiên không có người nào khai nhận số tiền trên là tài sản của mình. Mặc dù các bị cáo cho rằng số tiền trên không phải của các bị cáo nhưng số tiền 1.800.000 đồng tạm giữ trên nền nhà ngay vị trí ngồi của các bị cáo. Do đó số tiền trên là số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc.
Như vậy, tổng số tiền mà các bị cáo: Võ Minh H, Huỳnh C2, Nguyễn Thanh T1, Nguyễn Văn T2, Phạm V3 và Trịnh Văn Q1 sử dụng vào mục đích đánh bạc là 11.884.000 đồng (mười một triệu, tám trăm tám mươi bốn nghìn đồng).
Tại bản cáo trạng số 136/CT-VKS-BS ngày 23/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi đã truy tố các bị cáo: Võ Minh H, Huỳnh C2, Nguyễn Thanh T1, Nguyễn Văn T2, Phạm V3 và Trịnh Văn Q1 đều về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Minh H số tiền từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng;
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trịnh Văn Q1 số tiền từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng;
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T1 số tiền từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng;
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt các bị cáo: Huỳnh Chinh, Phạm V3 mỗi bị cáo số tiền từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng;
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T2 số tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng;
- Đối với một số vấn đề liên quan khác:
Đối với Ngô Thị T3 (chủ quán C3): Tại thời điểm các bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc thì bà T3 không biết và hoàn toàn không hưởng lợi gì từ việc đánh bạc nói trên nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
- Về xử lý vật chứng:
- Đối với số tiền: 11.884.000 đồng (mười một triệu, tám trăm tám mươi bốn nghìn đồng) sử dụng vào việc đánh bạc đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy A52S 5G của bị cáo Võ Minh H: Đây được xác định là công cụ dùng để đánh bạc nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Ý kiến bào chữa, tranh luận của các bị cáo: Các bị cáo không bào chữa, tranh luận gì.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo đều nhận thức được hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật, ăn năn hối hận và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng.
[1.1] Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; người tham gia tố tụng khác cung cấp là phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
[1.2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Các bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.3] Tại phiên tòa, người làm chứng vắng mặt nhưng hồ sơ vụ án đã có lời khai của những người này. Do đó, việc vắng mặt của người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung:
[2.1] Tại phiên tòa các bị cáo: Võ Minh H, Huỳnh C2, Nguyễn Thanh T1, Nguyễn Văn T2, Phạm V3 và Trịnh Văn Q1 đã khai nhận toàn bộ hành vi của các bị cáo như bản cáo trạng đã truy tố, lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với vật chứng được thu giữ tại hiện trường, các tài liệu về hiện trường và các chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ 15 phút ngày 27/12/2023, các bị cáo: Võ Minh H, Huỳnh C2, Nguyễn Thanh T1, Nguyễn Văn T2, Phạm V3 và Trịnh Văn Q1 đã thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh bầu cua thắng thua bằng tiền tại quán C3 thuộc tổ dân phố D, thị trấn C, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi với tổng số tiền là 11.884.000 đồng. Hành vi của các bị cáo như nêu trên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[2.2] Xét tính chất, vai trò, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi của các bị Võ Minh H, Huỳnh C2, Nguyễn Thanh T1, Nguyễn Văn T2, Phạm V3 và Trịnh Văn Q1 là nguy hiểm cho xã hội, là nguyên nhân chính gây ra những loại tệ nạn xã hội và tội phạm khác, làm mất an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần phải có một hình phạt tương xứng nhằm răn đe, giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[2.3] Các bị cáo Võ Minh H, Huỳnh C2, Nguyễn Thanh T1, Nguyễn Văn T2, Phạm V3 và Trịnh Văn Q1 cùng nhau thực hiện hành vi đánh bạc trái phép, không có sự bàn bạc, phân công. Vì vậy, hành vi của các bị cáo là đồng phạm giản đơn nên Hội đồng xét xử cần áp dụng Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự để xem xét tính chất và mức độ tham gia của từng bị cáo nhằm quyết định hình phạt một cách khách quan, chính xác.
[2.4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân các bị cáo.
[2.4.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[2.4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; các bị cáo đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo Nguyễn Thanh T1 tham gia nghĩa vụ Công an nhân dân vào năm 2018; bị cáo Nguyễn Văn T2 tham gia nghĩa vụ quân sự năm 2017; bị cáo Trịnh Văn Q1 có ông nội ruột là người có công với cách mạng nên các bị cáo T1, T2, Q1 được áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân tốt, phạm tội lần đầu nên không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính vẫn đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
[3] Về xử lý vật chứng:
[3.1] Đối với số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 11.884.000 đồng (mười một triệu, tám trăm tám mươi bốn nghìn đồng), Hội đồng xét xử cần tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
[3.2] Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy A52S 5G của bị cáo Võ Minh H: Đây được xác định là công cụ dùng để đánh bạc nên Hội đồng xét xử cần tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
[4] Xét ý kiến tranh luận: Các bị cáo không có tranh luận gì nên không xét.
[5] Xét lời nói sau cùng của các bị cáo: Lời nói sau cùng của các bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[6] Xét ý kiến đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[7] Về án phí: Các bị cáo Võ Minh H, Huỳnh C2, Nguyễn Thanh T1, Nguyễn Văn T2, Phạm V3 và Trịnh Văn Q1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo; người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Võ Minh H, Huỳnh C2, Nguyễn Thanh T1, Nguyễn Văn T2, Phạm V3 và Trịnh Văn Q1 đều phạm tội “Đánh bạc".
- Về điều luật áp dụng và hình phạt:
2.1. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 35 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Võ Minh H số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).
2.2. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 35 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Huỳnh C2 số tiền 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng).
2.3. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 35 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm V3 số tiền 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng).
2.4. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 35 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T1 số tiền 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng).
2.5. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 35 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T2 số tiền 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng).
2.6. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trịnh Văn Q1 số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
3.1. Tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 11.884.000 đồng (mười một triệu, tám trăm tám mươi bốn nghìn đồng) theo Ủy nhiệm chi ngày 07/10/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B nộp vào tài khoản tạm gửi của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Sơn, số tài khoản 3949.0.1068644.00000 mở tại Kho bạc nhà nước huyện B.
3.2. Tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy A52S 5G, tên kiểu thiết bị SM-A528B/DS, màu trắng, số seri R5CR0NEVZP, Imei1: 350346450574051, Imei2: 350895260574057 được niêm phong trong túi niêm phong mã số PS2 2006546.
Chi tiết các vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/10/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Sơn.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Võ Minh H, Huỳnh C2, Nguyễn Thanh T1, Nguyễn Văn T2, Phạm V3 và Trịnh Văn Q1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 29/10/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đoàn Kiều Trung |
Bản án số 02/2024/HS-ST ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI về hình sự - đánh bạc
- Số bản án: 02/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Võ Minh Hồng và đồng phạm, phạm tội "Đánh bạc"
