Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HOÁ

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2024/HS-ST

Ngày: 28-10-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HOÁ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Liên

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Cát Tường – Giáo viên nghỉ hưu
  2. Ông Đỗ Khắc Kiếm - Hưu trí

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mơ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Trà My - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2024/HSST ngày 03 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2024/QĐXXST - HS ngày 14 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn N - Sinh năm: 1990; Nơi cư trú: Thôn P, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa; Số thẻ căn cước công dân: [...] cấp ngày 01 tháng 3 năm 2023, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về trật tự xã hội; Nghề nghiệp: LĐTD; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1961 và bà Lê Thị T1, sinh năm 1960; Có vợ: Nguyễn Thị H và 02 con, lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Chưa; Tạm giữ: 08/8/2024; Tạm giam: 14/8/2024; Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

  1. Anh Nguyễn Hữu T2, sinh năm: 1985; địa chỉ: Thôn D, xã T, TP ., tỉnh Thanh Hóa. (vắng mặt)
  2. Anh Nguyễn Doãn Đ, sinh ngày: 19/6/2007; Địa chỉ: Thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. (vắng mặt)

Người đại diện hợp pháp cho anh Đ: Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1998; Địa chỉ: Lô A MB B, phường Đ, TP., tỉnh Thanh Hóa. (vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1998; Địa chỉ: Lô A MB B, phường Đ, TP., tỉnh Thanh Hóa. (vắng mặt)
  2. Anh Bùi Thúc T3, sinh năm: 1991; Địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện Q, Hà Nội. (vắng mặt)
  3. Anh Nguyễn Văn S, sinh năm: 2000; Địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. (vắng mặt). Anh S có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  4. Ông Nguyễn Hữu T4, sinh năm: 1985; Địa chỉ: Thôn D, xã T, TP ., tỉnh Thanh Hóa. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo Nguyễn Văn N bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Do có mục đích chiếm đoạt tài sản để tiêu sài cá nhân nên trong khoảng thời gian từ ngày 01/8 đến ngày 03/8/2024, tại khu vực chợ Đ1, phường Đ, thành phố T, Nguyễn Văn N đã thực hiện các hành vi phạm tội:

Lần thứ nhất: Khoảng 23 giờ ngày 01/8/2024, N đi bộ đến khu vực Chợ đầu mối, phường Đ, thành phố T với mục đích tìm xe máy không có người trông coi để trộm cắp. Sau khi đi xung quanh khu vực chợ, N thấy ở đường giữa trung tâm chợ có khoảng 4-5 xe máy đang không có người trông coi. N đi lại quan sát thấy có một chiếc xe máy Honda Wave anpha màu trắng đen bạc, BKS 36B6-999.65 dựng trước số nhà A, MB2072, phường Đ đang cắm sẵn chìa khóa nên lấy trộm chiếc xe máy trên rồi đi đến quán I ở gần T tỉnh Thanh Hóa thuộc phường Q, thành phố T chơi game. Sau đó, N sử dụng tài khoản Facebook của mình tên "Tìm lại bầu trời" đăng ảnh chiếc xe máy lên bán với nội dung chiếc xe máy của N bị mất giấy tờ cần bán, thì có tài khoản Facebook "Nguyễn Văn S" đồng ý mua lại chiếc xe. Đến 09 giờ 30 phút ngày 02/8/2024, Nguyễn Văn S là chủ tài khoản facebook "Nguyễn Văn S" gọi điện qua tài khoản Facebook cho N và hẹn nhau ra khu vực gần Trường Chính trị tỉnh T để giao xe và nhận tiền. Sau khi xem xe, S hỏi về nguồn gốc xe thì N nói là xe mua lại và bị mất giấy tờ, hiện đang làm lại giấy tờ, N hứa làm xong giấy tờ sẽ đưa cho S. S hỏi giấy tờ cá nhân của N thì N nói không mang theo và N cho S chụp ảnh N cùng với chiếc xe nên S mới tin tưởng đồng ý mua xe với giá 3.800.000₫ và nói khi nào có giấy tờ xe thì S sẽ trả thêm tiền cho N.

Lần thứ hai: Khoảng 23 giờ ngày 03/8/2024, N đi bộ đến khu vực đường bên hông Chợ đầu mối thì thấy có một chiếc xe máy Honda Wave anpha màu đen bạc BKS 36B5-223.18 đang cắm sẵn chìa khóa. Nghĩa quan sát xung quanh không có người trông coi nên trộm cắp chiếc xe trên rồi đi thẳng ra Hà Nội. Khi đến Hà Nội, N vào quán internet ở khu vực gần bến xe M và tiếp tục sử dụng tài khoản Facebook "Tìm lại bầu trời" đăng bán chiếc xe giá 8.000.000₫ với nội dung cần tiền sử dụng cá nhân nên cần bán, thì có tài khoản Facebook tên "Hoàng Minh T5" đồng ý mua chiếc xe. N và T5 hẹn nhau ra khu vực bến xe M để giao xe. Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 04/8/2024, N gặp Bùi Thúc T3 là chủ tài khoản Facebook "Hoàng Minh T5" ở khu vực cổng bến xe M. Khi bán xe, N nói với T5 cần tiền nên bán chiếc xe, nhà ở xa nên người nhà chưa gửi giấy tờ ra được và hứa sẽ cung cấp giấy tờ cho T5 trong thời gian sớm nhất, do đang có nhu cầu mua xe để đi lại nên sau khi xem xe, anh T5 đồng ý mua xe và trả cho N số tiền 5.150.000đ, khi nào có giấy tờ xe thì anh T5 sẽ trả thêm tiền cho N.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 70/KL-HĐ ĐGTS ngày 08/8/2024của Hội đồng định giá U xác định tại thời điểm trộm cắp thì chiếc xe máy BKS 36B5-223.18 trị giá 9.000.000đ, chiếc xe BKS 36B6-999.65 trị giá 11.000.000đ. Tổng trị giá tài sản mà Nguyễn Văn N trộm cắp là 20.000.000₫.

Về vật chứng:

  • 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng đen bạc, BKS 36B6-999.65: quá trình điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Hữu T4 sinh năm 1985, trú tại thôn D, xã T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa (anh trai anh T2), ngày 01/8/2024 anh T4 cho anh T2 mượn. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại chiếc xe máy trên cho anh T4 theo quy định pháp luật.
  • 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen bạc, BKS 36B5-223.18: quá trình điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp là chị Nguyễn Thị H2 (chị gái anh Đ), sinh năm 1995, trú tại SN 34 P, Q, xã Thiệu Thịnh, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, ngày 03/8/2024 chị H2 cho anh Đ mượn. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại chiếc xe máy trên cho chị H2 theo quy định pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì. Anh Nguyễn Văn S yêu cầu Nguyễn Văn N bồi thường cho anh S số tiền 3.800.000đ. Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử anh Nguyễn Văn S có đơn đề nghị không yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 3.800.000đ. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì về dân sự.

Cáo trạng số 293/CT- VKS ngày 02/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của BLHS.

Phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của BLHS, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N từ 15 đến 18 tháng tù. Về dân sự: Công nhận bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa và của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và không có khiếu nại gì cần được tiến hành theo thủ tục chung.

  2. Các căn cứ là tình tiết định tội đối với bị cáo: Trên cơ sở lời khai của bị cáo tại phiên tòa và lời khai trước đây bị cáo đã khai tại Cơ quan điều tra, báo cáo và lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:

    Trong các ngày 01/8 và 03/8/2024, tại khu vực chợ Đ1, phường Đ, thành phố T, Nguyễn Văn N đã lợi dụng sơ hở của bị hại trong việc quản lý tài sản đã trộm cắp 01 chiếc xe máy Honda Wave anpha màu trắng đen bạc, BKS 36B6-999.65 của anh Nguyễn Hữu T2 trị giá 11.000.000₫ và 01 chiếc xe máy Honda Wave anpha màu đen bạc BKS 36B5-223.18 của anh Nguyễn Doãn Định trị G 9.000.000đ. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt được định giá là 20.000.000₫.

    Hành vi nêu trên của Nguyễn Văn N đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS, như cáo trạng và quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở, đúng pháp luật.

  3. Tính chất vụ án: Do không có việc làm, thu nhập ổn định, lười lao động mà muốn có tiền tiêu sài cá nhân nên Nguyễn Văn N khi thấy chủ tài sản sơ hở trong việc quản lý tài sản bị cáo đã thực hiện việc trộm cắp. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến trật tự xã hội nói chung mà còn xâm phạm đến tài sản của người khác nói riêng do vậy, cần phải được xử lý nghiêm đối với bị cáo mới có tính giáo dục và phòng ngừa chung.

  4. Trách nhiệm hình sự (TNHS) của bị cáo:

    Tình tiết giảm nhẹ: Tại các cơ quan pháp luật bị cáo thành khẩn khai báo, sau khi phạm tội đã đầu thú, các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của BLHS.

    Tình tiết tăng nặng: Bị cáo 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên phải chịu tình tiết tăng nặng là phạm tội nhiều lần theo quy định tại điểm g Khoản 1 Điều 52 BLHS.

    Với tính chất vụ án, hành vi của bị cáo, cần áp dụng Điều 38 của BLHS cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để có đủ điều kiện cải tạo sớm trở thành người lương thiện.

  5. Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt, đã được thu hồi trả cho bị hại và nay không có yêu cầu gì cần được công nhận. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì về phần dân sự.

  6. Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g Khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS; Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/8/2024.

Về trách nhiệm dân sự: Công nhận bị hại đã nhận đủ tài sản do bị cáo chiếm đoạt và không có yêu cầu gì. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì về phần bồi thường.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu 200.000 đồng.

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hoặc kể từ ngày nhận được bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND TP. Thanh Hóa;
  • - Công an TP. Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Chi cục THADS TP. Thanh Hóa;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Trần Thị Liên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2024/HS-ST ngày 28/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ, TỈNH THANH HOÁ về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 02/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ, TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger