Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TỪ SƠN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2024/HS-ST

Ngày 24/10/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Phương.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Ngọc Sáng và bà Nguyễn Thị Quý Anh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 10 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2024/TLST-HS ngày 03/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2024/QĐXXST-HS ngày 11/10/2024. Địa điểm mở phiên toà: Hội trường xét xử - Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Địa chỉ: đường Lê Quang Đạo, phường Đông Ngàn, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh và Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh.

Vụ án được xét xử trực tuyến công khai tại 02 điểm cầu:

- Điểm cầu trung tâm là Hội trường xét xử tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh gồm: Những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng khác và ông Nguyễn Đình Thành, cán bộ tin học.

- Điểm cầu thành phần là phòng xét xử tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh gồm: Bị cáo Lê Đức Hạnh; bị cáo Bùi Văn Sơn và cán bộ tin học của Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh đối với:

  1. Bị cáo: Lê Đức Hạnh, sinh năm 1981; Nơi đăng ký HKTT: Xóm 9, xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Đức Cảnh, sinh năm 1950 và bà Trương Thị Nguyệt, sinh năm 1960; Có vợ là Trương Thị Anh Đào, sinh năm 1987; Có 01 con sinh năm 2013.

    Tiền án: Tại bản án số 185/2022/HSST ngày 30/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt Hạnh 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Hạnh chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 10/9/2023.

    Tiền sự: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 168 ngày 10/9/2019 của Công an thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt Hạnh bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Hạnh chưa chấp hành quyết định.

    Nhân thân:

    + Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 170/QĐ-TA ngày 04/10/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An đưa Hạnh vào cơ sở cai nghiện trong thời hạn 15 tháng. Hạnh chấp hành xong quyết định ngày 20/11/2020.

    + Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 02 ngày 06/6/2021 của Công an xã Phật Tích, huyện Tiên Du xử phạt Hạnh bằng hình thức phạt tiền 1.000.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản. Hạnh chấp hành xong Quyết định ngày 03/8/2021.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/6/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Từ Sơn. Có mặt tại phiên tòa.

  2. Bị cáo: Bùi Văn Sơn, sinh năm 1996; Nơi đăng ký HKTT: Xóm Thượng, xã Lạc Sỹ, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn Xi, sinh năm 1971 và bà Bùi Thị Hoan, sinh năm 1979; Có vợ là Quách Thị Lon, sinh năm 1996; Có 01 con sinh năm 2015.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Tại bản án số 22/2019/HSST ngày 24/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình xử phạt 12 tháng tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 bộ luật Hình sự. Sơn chấp hành xong toàn bộ Bản án ngày 13/01/2020.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/6/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Từ Sơn. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ 30 ngày 14/6/2024 tại bờ mương gần trường Cao đẳng Lý Thái Tổ thuộc khu phố Thượng, phường Đình Bảng, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Từ Sơn tiến hành kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang Lê Đức Hạnh có hành vi bán trái phép 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng cho Bùi Văn Sơn.

Vật chứng thu giữ tại lòng bàn tay phải của Sơn 01 gói nhỏ được bọc bằng giấy màu bạc bên trong chứa chất bột màu trắng được niêm phong theo quy định pháp luật. Sơn khai nhận đây là ma túy Heroine Sơn vừa mua được của Hạnh với giá 200.000 đồng mục đích để sử dụng cho bản thân; Thu giữ trong lòng bàn tay phải của Hạnh 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng. Hạnh khai nhận đây là tiền Hạnh vừa bán ma túy cho Sơn mà có được.

Tại bản Kết luận giám định số 1453/KL - KTHS ngày 16/6/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 01 gói nhỏ được bọc ngoài bằng giấy màu bạc gửi giám định có khối lượng là 0,1881 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Heroine”.

Với nội dung trên, bản cáo trạng số 209/CT-VKS-TS ngày 02/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn đã quyết định truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn để xét xử bị cáo Lê Đức Hạnh về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251; bị cáo Bùi Văn Sơn về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Hạnh khai nhận: Bản thân bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2017 đến nay, hiện bị cáo đang sống lang thang tại thành phố Từ Sơn. Khoảng 12 giờ ngày 14/6/2024 tại khu vực phường Đình Bảng, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, bị cáo gặp và mua được 01 gói ma túy Heroine nhỏ được bọc ngoài bằng giấy màu bạc của 01 nam thanh niên không quen biết với giá 200.000 đồng. Sau đó, bị cáo cất gói ma túy này trong người rồi đi bộ đến bờ mương gần trường Cao đẳng Lý Thái Tổ thuộc khu phố Thượng, phường Đình Bảng, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh mục đích để tìm nơi sử dụng. Tại đây, bị cáo gặp Sơn đang đi bộ gần bờ mương, Sơn hỏi mua của bị cáo 200.000 đồng ma túy. Sẵn có ma túy trong người và do nể nang, bị cáo bán lại gói ma túy vừa mua được trước đó cho Sơn để lấy tiền tiêu sài ca nhân. Sơn đưa cho bị cáo số tiền 200.000 đồng, bị cáo cầm tiền và đưa lại cho Sơn gói ma túy đã mua được trước đó. Sơn vừa cầm gói ma túy bị cáo đưa thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Bị cáo Sơn khai nhận: Bản thân bị cáo bắt đầu sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2018 đến nay. Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 14/6/2024 bị cáo đi bộ đến bờ mương gần trường Cao đẳng Lý Thái Tổ thuộc khu phố Thượng, phường Đình Bảng mục đích tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Bị cáo gặp Hạnh, thấy Hạnh có biểu hiện nghiện ma túy nên bị cáo hỏi và mua được của Hạnh 200.000 đồng tiền ma túy như Hạnh khai nhận là đúng. Khi bị cáo đưa cho Hạnh 200.000 đồng và Hạnh đưa lại cho bị cáo 01 gói ma túy thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của các bị cáo cũng như xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Đức Hạnh phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Bị cáo Bùi Văn Sơn phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Đức Hạnh từ 36 đến 39 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 14/6/2024.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Bùi Văn Sơn từ 17 đến 20 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 14/6/2024.

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định.

Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 200.000 đồng.

Tại phiên tòa, các bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay: Các bị cáo đã khai báo và không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Hồi 12 giờ 30 phút ngày 14/6/2024, tại bờ mương gần trường Cao đẳng Lý Thái Tổ thuộc khu phố Thượng, phường Đình Bảng, tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Từ Sơn bắt quả tang Lê Đức Hạnh có hành vi bán trái phép 0,1881 gam ma túy Heroine cho Bùi Văn Sơn với giá 200.000 đồng. Hạnh bán ma túy cho Sơn là do nể nang và muốn bán lại để lấy tiền tiêu sài cá nhân. Sơn tàng trữ 0,1881 gam ma túy Heroine mục đích sử dụng cho bản thân. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Lê Đức Hạnh phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự và bị cáo Bùi Văn Sơn phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn đã truy tố.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới chính sách quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, ảnh hưởng tới sức khỏe con người và là cầu nối của đại dịch HIV. Đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm nguy hiểm khác như giết người, cướp tài sản, trộm cắp. Nên cần phải xử lý nghiêm các bị cáo theo quy định của Bộ luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo là người có nhân thân xấu. Tại bản án số 185/2022/HSST ngày 30/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt Hạnh 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Hạnh chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 10/9/2023; Ngoài ra Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 168 ngày 10/9/2019 của Công an thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt Hạnh bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo Hạnh chưa chấp hành quyết định. Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 170/QĐ-TA ngày 04/10/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An đưa Hạnh vào cơ sở cai nghiện trong thời hạn 15 tháng. Hạnh chấp hành xong quyết định ngày 20/11/2020 và Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 02 ngày 06/6/2021 của Công an xã Phật Tích, huyện Tiên Du xử phạt Hạnh bằng hình thức phạt tiền 1.000.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản. Hạnh chấp hành xong Quyết định ngày 03/8/2021. Bị cáo Hạnh phạm tội khi chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo Sơn tại bản án số 22/2019/HSST ngày 24/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình xử phạt 12 tháng tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 bộ luật Hình sự. Bị cáo Sơn đã chấp hành xong và được xóa án tích vì vậy, bị cáo Sơn không phải chịu tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Sau khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy, cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới giúp các bị cáo cải tạo trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo có điều kiện hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định. Do vậy; Cần miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.

[6] Về xử lý vật chứng: Mẫu vật còn lại sau giám định là chất cấm lưu hành nên cần tịch thu và tiêu hủy. Đối với số tiền bị cáo Hạnh bán ma túy mà có cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 200.000 đồng.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Liên quan trong vụ án có người thanh niên bán ma túy cho bị cáo Hạnh tại khu vực phường Đình Bảng, Hạnh khai không biết người này là ai, không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của người này, đến nay không nhớ đặc điểm cụ thể của người này. Do đó, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh, khi nào làm rõ sẽ đề nghị xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Lê Đức Hạnh phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và bị cáo Bùi Văn Sơn phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

  2. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136 và Điều 329; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

    Xử phạt bị cáo Lê Đức Hạnh 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/6/2024.

  3. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136 và Điều 329; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

    Xử phạt bị cáo Bùi Văn Sơn 20 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/6/2024.

Quyết định tạm giam bị cáo Hạnh và bị cáo Sơn mỗi bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo Hạnh và bị cáo Sơn.

Tịch thu và tiêu hủy: 01 phong bì đựng mẫu vật còn lại sau giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh, mặt trước có ghi chữ “Kính gửi: Cơ quan CSĐT-CATP Từ Sơn. Mẫu vật còn lại sau giám định trong vụ án Lê Đức Hạnh, sinh năm 1981 ở Diễn Châu, Nghệ An bán ma túy cho Bùi Văn Sơn 1996 ở Lạc Sỹ, Yên Thủy, Hòa Bình”.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 200.000 đồng.

Về án phí: Bị cáo Hạnh, bị cáo Sơn mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND thành phố Từ Sơn;
  • - Công an thành phố Từ Sơn;
  • - Trại giam;
  • - Chi cục THADS thành phố Từ Sơn;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Cơ quan THAHS Công an thành phố Từ Sơn;
  • - Lưu HS, VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2024/HS-ST ngày 24/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 02/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger