|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU TỈNH SƠN LA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 02/2024/HS-ST Ngày 23 - 10 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Cầm Thị Thanh Huyền.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Tiến Hiệt.
Ông Hoàng Minh Xuân.
- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Văn Hải - Thư ký Toà án nhân dân huyện
Yên Châu, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Thị Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Giàng A L (tên gọi khác: Không), sinh năm 1989 tại: huyện B, tỉnh Sơn La.
Nơi cư trú: Bản S, xã H, huyện B, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Giàng A T và bà Vàng Thị D; bị cáo có vợ và 03 con. Con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2018.
- Tiền án: 01 tiền án. Tại Bản án số 19/2022/HSST ngày 30/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Yên xử phạt Giàng A L 15 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 BLHS. Đến thời điểm phạm tội mới chưa được xoá án tích.
- Tiền sự: 02 tiền sự.
+ Ngày 10/3/2022 bị Công an huyện M ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền, số tiền 3.500.000 đồng về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý, Giàng A L chấp hành xong Quyết định xử phạt. (Đến thời điểm phạm tội mới chưa chấp hành xong thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính).
+ Ngày 22/7/2022 bị Công an huyện B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền số tiền 3.550.000 đồng về hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, Giàng A L chấp hành xong Quyết định xử phạt. (Đến thời điểm phạm tội mới chưa chấp hành xong thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính).
- Nhân thân: Bản án số 28/2016/HSST ngày 26/9/2016 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La tuyên phạt Giàng A L 12 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138; Điều 33; điểm h, p khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999. Buộc bồi hoàn cho bị hại số tiền 3.700.000 đồng, án phí HSST và HSPT tổng cộng 400.000 đồng (đã được xoá án tích).
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y ngày 10/6/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 19 giờ 00 phút, ngày 10/6/2024, tổ công tác Công an huyện Y làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát trên địa bàn QL 6 qua khu vực hốc cứu nạn thuộc bản Chủm, xã C phát hiện Giàng A L, sinh năm 1989, trú tại Bản S, xã H, huyện B, tỉnh Sơn La có biểu hiện nghi vấn, qua kiểm tra thu giữ được của Giàng A L 01 gói nilon màu xanh đang cầm trong lòng bàn tay trái, bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là H Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng. Vật chứng thu giữ được gồm 01 gói ma tuý có đặc điểm nêu trên, 01 chiếc xe máy không có biển kiểm soát.
Ngày 10/6/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện Y/Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu cùng Phòng KCông an tỉnh S tiến hành cân tịnh xác định khối lượng số chất bột màu trắng thu giữ của Giàng A L tổng khối lượng là 0,14 gam, lấy toàn bộ làm mẫu giám định, ký hiệu T bàn giao cho Phòng KCông an tỉnh S giám định chất ma túy, loại ma túy. Tại kết luận giám định số: 1254/KLMT ngày 11/6/2024 của Phòng KCông an tỉnh S kết luận: “Mẫu gửi giám định kí hiệu T là ma túy; Loại Heroine; Khối lượng của mẫu gửi là 0,14 gam; Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,14 gam; Loại Heroine. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định”.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa Giàng A L nhận: Khoảng 16 giờ ngày 10/6/2024, Giàng A L theo số tiền 100.000 đồng rồi đi điều khiển xe máy không có biển soát đi từ bản S, xã H, huyện B xã C, huyện M tìm mua ma túy để bản thân sử dụng. Đến khu vực ngã ba tượng đài thuộc xã C, huyện M, L một người đàn ông không quen biết đang đi bộ ngoài đường. Qua trao đổi, L hỏi và mua được của người đàn ông đó 01 gói Heroine bên ngoài gói bằng mảnh nilon màu xanh với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, L trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe máy đi đến khu vực bản C, xã C, huyện Y tổ công tác Công an huyện Y phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Đối với chiếc xe mô tô, số máy: VTT08JL 1P52FMH 004926 không gắn biển kiểm soát đã qua sử dụng tạm giữ của bị cáo. Quá trình điều tra xác định là của bị cáo mua lại từ người thu mua sắt vụn không quen biết ở dọc đường đã lâu, mang về sửa chữa làm phương tiện di chuyển.
Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 41/CT-VKSYC ngày 03/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Yên Châu để xét xử bị cáo Giàng A L về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.
Tại phiên tòa bị cáo L thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, thống nhất với lời khai nhận trong quá trình điều tra, truy tố.
Tại phiên toà kiểm sát viên thực hành quyền công tố phát biểu quan điểm luận tội, sau khi phân tích nội dung vụ án, các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra cũng như diễn biến tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Giàng A L phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS xử phạt bị cáo từ 22 đến 26 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS, Điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS 2015 đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng liên quan bao gồm: 01 phong bì niêm phong, bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu và vỏ gói ban đầu; Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc xe máy không có biển kiểm soát.
Về án phí: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo đồng ý với Bản cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận gì thêm.
Tại phiên tòa khi được nói lời sau cùng bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, có thái độ ăn năn, hối cải về hành vi đã thực hiện, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định pháp luật.
[2] Về tình tiết định tội định khung hình phạt:
Tại phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.
Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 10/06/2024, biên bản niêm phong vật chứng ngày 10/06/2024, biên bản mở niêm phong, cân tịnh, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng ngày 10/06/2024, Kết luận giám định số 1254/KLMT ngày 11/6/2024, các biên bản ghi lời khai nhận của bị cáo về thời gian, địa điểm, diễn biến việc thực hiện hành vi phạm tội, biên bản lấy lời khai của người chứng kiến, và đều phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 10/6/2024, Giàng A L đã mua trái phép chất ma túy với giá 100.000 đồng mục đích sử dụng cho bản thân. Khi đang có hành vi cất giấu trái phép 0,14 gam Heroine trong trong lòng bàn tay trái tại bản C, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La thì bị tổ công tác Công an huyện Y bắt quả tang.
Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, có mức phạt tù từ 01 đến 05 năm.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu truy tố và Tòa án nhân dân huyện Yên Châu xét xử bị cáo Giàng A L là chính xác, đúng người, đúng tội, đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật, không oan sai cho bị cáo. Tại thời điểm thực hiện hành vi của mình bị cáo đã có đầy đủ năng lực, trách nhiệm hình sự nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm mà bị cáo đã thực hiện.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương mà còn gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, ảnh hưởng sức khỏe con người, suy kiệt nòi giống, lây lan đại dịch HIV/AIDS đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác như trộm cắp, cướp của, giết người.. Nên cần xử lý nghiêm bị cáo bằng hình phạt để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Trong vụ án này, bị cáo là công dân có đủ nhận thức để hiểu được tác hại của ma túy và việc tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật. Song để thỏa mãn nhu cầu của bản thân bị cáo đã bất chấp pháp luật cố tình thực hiện tội phạm, tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho nhu cầu nghiện hút ma túy
của mình. Tuy nhiên khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ không lớn 0,14 gam Heroine, khi xảy ra sự việc bị cáo tự giác giao nộp số ma túy đang tàng trữ trong người cho Cơ quan điều tra, ngoài mục đích tàng trữ để sử dụng bị cáo không có mục đích khác.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do đó cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.
Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 01 tiền án, 02 tiền sự. Ngày 10/3/2022 bị cáo bị Công an huyện M ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền, số tiền 3.500.000 đồng về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý, Giàng A L chấp hành xong Quyết định xử phạt. (Đến thời điểm phạm tội mới chưa chấp hành xong thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính). Ngày 22/7/2022, bị Công an huyện B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền số tiền 3.550.000 đồng về hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, Giàng A L chấp hành xong Quyết định xử phạt. (Đến thời điểm phạm tội mới chưa chấp hành xong thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính). Ngày 30/8/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Yên xử phạt 15 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý đến thời điểm thực hiện hành vi phạm tội mới bị cáo chưa được xóa án tích nên Bị cáo thuộc trường hợp tái phạm, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thuộc điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.
Bị cáo là người dân tộc thiểu số, cư trú tại vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ nhận thức và hiểu biết pháp luật còn nhiều hạn chế. Tuy nhiên bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, là đối tượng nghiện ma túy lâu năm, nhân thân xấu, đã 01 lần bị Tòa án xử phạt về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, 01 lần bị Tòa án xử phạt về hành vi trộm cắp tài sản, nhưng sau khi chấp hành hình phạt quay trở lại địa phương làm ăn, sinh sống không ăn năn hối cải, lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn tiếp tục có hành vi vi phạm pháp luật. Việc bị cáo chưa được xóa án tích nhưng tiếp tục có hành vi vi phạm pháp luật thuộc trường hợp tái phạm thể hiện sự ngông cuồng, bất chấp coi thường pháp luật, thiếu sự rèn luyện, tu dưỡng, hối cải của bị cáo.
Do vậy cần căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ để có mức án phù hợp, tương xứng, nhằm nghiêm khắc trừng phạt, cải tạo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, đồng thời răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội, có ý thức chấp hành pháp luật và thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy tại địa phương.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 quy định, người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến
500.000.000đ, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên trong quá trình điều tra và xét hỏi tại phiên tòa đã làm rõ bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, thuộc hộ nghèo, không có công việc và thu nhập ổn định, không có tài sản gì có giá trị lớn, hoàn cảnh gia đình khó khăn vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng: Đối với vật chứng liên quan bao gồm: 01 phong bì niêm phong, bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu và vỏ gói ban đầu. Xét thấy đây là những vật không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với 01 chiếc xe máy không rõ nhãn hiệu, không có biển kiểm soát đã qua sử dụng, xét thấy đây là phương tiện phạm tội trong vụ án cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[7] Về vấn đề khác liên quan đến vụ án: Đối với người đàn ông bị cáo khai nhận bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra do bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này nên cơ quan CSĐT Công an huyện Y có căn cứ để điều tra, xác minh và xử lý.
Đối với hành vi vi phạm các lỗi khi tham gia giao thông đường bộ của Giàng A L(Điều khiển xe mô tô không gắn biển số; không có giấy phép lái xe; trong cơ thể có chất ma tuý...”. Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã chuyển các tài liệu có liên quan đến hành vi vi phạm giao thông đường bộ của Giàng A L ĐCông an huyện Y xử lý theo thẩm quyền.
[8] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, thuộc hộ nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[10] Thời hạn tạm giam còn lại của bị cáo dưới 45 ngày, cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 329 BLTTHS 2015.
[11] Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo: Đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và các vấn đề liên quan khác là phù hợp, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS 2015.
Tuyên bố: Bị cáo Giàng A L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Giàng A L 23 (hai mươi ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 10/06/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy các vật chứng liên quan bao gồm: 01 phong bì niêm phong, bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu và vỏ gói ban đầu. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc xe máy không có biển kiểm soát.
Theo biên bản giao nhận vật chứng số 02/BB-CCTHADS ngày 11/10/2024 giữa Công an huyện Y và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Châu.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Giàng A L.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 23/10/2024.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Hội Thẩm Hội Thẩm |
Cầm Thị Thanh Huyền |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cầm Thị Thanh Huyền |
Bản án số 02/2024/HS-ST ngày 23/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA về hình sự sơ thẩm: tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 02/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Giàng A L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
