Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SỐP CỘP

TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 02/2024/HS-ST

Ngày: 22-10-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Văn Quyết.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Tòng Văn Hưởng.
  2. Ông Cầm Văn On.

Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Ánh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp tham gia phiên tòa: Bà Lò Thị Kim – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 10 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 04/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2024/QĐXXST-HS ngày 11/10/2024, đối với bị cáo:

Đào Văn G, tên gọi khác: Không, sinh năm 1991; số định danh cá nhân: 010091001890; nơi cư trú: Thôn C, xã T, thành phố L, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; con ông: Đào Văn G1 và con bà: Hà Thị T; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, giam từ ngày 30/6/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 20 giờ 45 phút ngày 29/6/2024, tổ công tác Công an xã S phối hợp với Công an xã S, huyện S làm nhiệm vụ tại khu vực bản T, xã S, huyện S, tỉnh Sơn La phát hiện bắt quả tang Đào Văn G, sinh năm 1991, trú tại Thôn C, xã T, thành phố L, tỉnh Lào Cai về hành vi cất giấu trái phép chất ma túy. Thu giữ trong lòng bàn tay phải của Đào Văn G 01 gói nilon màu xanh bên trong có chứa 01 cục bột liên kết màu trắng (nghi là Heroine); 01 ống xi lanh màu trắng có gắn kim tiêm và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, đều đã qua sử dụng.

Ngày 30/6/2024, tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đã lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng, kết quả cân tịnh: 01 cục bột liên kết màu trắng có tổng khối lượng 0,29 gam, đã trích 0,10 gam gửi giám định, ký hiệu G, còn lại 0,19 gam, ký hiệu G1 lưu kho vật chứng.

Kết luận giám định số 1403/KL-KTHS ngày 02/7/2024 của Phòng K - Công an tỉnh S, kết luận: “Mẫu ký hiệu G gửi giám định là ma tuý, loại Heroine (H1), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,10 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,29 gam, loại Heroine (H).

Quá trình điều tra xác định được như sau:

Đầu năm 2024 Đào Văn G, trú tại Thôn C, xã T, thành phố L, tỉnh Lào Cai đến huyện S, tỉnh Sơn La để làm thuê. Đến khoảng 19 giờ 30 phút ngày 29/6/2024, do nghiện sử dụng ma tuý, Đào Văn G gọi điện thoại nhờ anh Vì Văn H, sinh năm 1974, trú tại Tiểu khu E, thị trấn S, huyện S làm nghề lái xe ôm chở G từ huyện S vào huyện S với mục đích để tìm mua ma tuý sử dụng nhưng không nói cho H biết. Khi đi đến khu vực suối mát thuộc địa phận bản T, xã S, huyện S thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông đang đi bộ ven đường, G bảo H dừng xe cách đó khoảng 20m, sau đó G đi bộ đến gần người đàn ông đó hỏi mua được 01 cục Heroine được gói bằng mảnh nilon màu xanh hết số tiền 140.000 đồng. Mua được ma tuý, G quay về chỗ H bảo H chở quay về huyện S, đi được một đoạn do lên cơn nghiện ma tuý nên G bảo H dừng xe để đi vệ sinh, H dừng xe đợi ngoài đường còn G đi vào trong rừng lấy xi lanh có gắn kim tiêm, chai nước lọc đã chuẩn bị từ trước ra và lấy 01 ít Heroine vừa mua được ra pha với nước lọc chích vào vùng bẹn bên trái của mình, chích ma tuý xong, G gói ma tuý lại như cũ cầm chiếc xi lanh có gắn kim tiêm và gói ma tuý trong lòng bàn tay phải quay về chỗ H đang đợi để về huyện S, khi về đến chỗ H đang đợi thì bị tổ công tác Công an xã S phối hợp với Công an xã S, huyện S kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Cáo trạng số: 56/CT-VKSSC ngày 08 tháng 10 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, truy tố Đào Văn G về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà:

  • Bị cáo khai báo thành khẩn, nhận tội, thừa nhận toàn bộ hành vi là vi phạm pháp luật, Toà án xét xử là không oan sai.
  • Kiểm sát viên sau khi trình bày luận tội, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 17 tháng đến 20 tháng tù. Bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung (là phạt tiền); bị cáo không thuộc trường hợp được miễn án phí nên phải chịu án phí; vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật. Bị cáo có quyền kháng cáo.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Sau khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra công an huyện S, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định tội danh:

  • Hồi 20 giờ 45 phút ngày 25/6/2024, tổ công tác Công an xã S phối hợp với Công an xã S, huyện S làm nhiệm vụ tại khu vực bản T, xã S, huyện S, tỉnh Sơn La phát hiện bắt quả tang Đào Văn G có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy. Thu giữ trong lòng bàn tay phải của Đào Văn G 01 gói nilon màu xanh bên trong có chứa 01 cục bột liên kết màu trắng, có tổng khối lượng 0,29 gam; theo kết luận giám định là chất ma tuý, loại Heroine (H). Mục đích Tàng trữ để sử dụng cá nhân.
  • Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội; lời khai nhận hoàn toàn thống nhất với lời khai tại cơ quan Điều tra, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang và lời khai của người chứng kiến; lời khai nhận của bị cáo cũng phù hợp với nội dung, tội danh của bản Cáo trạng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Quá trình xét hỏi, tranh luận không phát sinh tình tiết mới. Từ những phân tích, nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: Bị cáo Đào Văn G đã phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, khởi tố của cơ quan Điều tra và truy tố tội phạm của Viện kiểm sát đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm sự quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết hành vi Tàng trữ ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây bức xúc trong nhân dân và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác tại địa phương.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
  • Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan Điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần áp dụng cho bị cáo được hưởng.

Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi; căn cứ vào khối lượng ma tuý bị cáo tàng trữ, cần có mức hình phạt tương xứng và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và để phòng ngừa chung, đồng thời có thời gian cho bị cáo cai bỏ ma tuý.

[5] Về vấn đề khác liên quan trong vụ án:

  • Đối với người đàn ông dân tộc Mông theo bị cáo khai đã bán ma tuý cho bị cáo vào ngày 29/6/2024, tại khu vực suối mát thuộc địa phận bản T, xã S, huyện S. Quá trình điều tra bị cáo không xác định được đối tượng, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra, mở rộng vụ án là có căn cứ, cần chấp nhận.
  • Đối với Vì Văn H, là người lái xe ôm chở bị cáo từ huyện S vào huyện S. Tuy nhiên, khi bị cáo mua và sử dụng ma tuý thì Vì Văn H không biết và không liên quan. Do đó, Vì Văn H không đồng phạm với bị cáo là có căn cứ, cần chấp nhận.

[6] Vật chứng của vụ án còn lại: 0,19 gam ma tuý và các đồ vật liên quan đều là vật cấm lưu hành và vật không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ. Đối với chiếc điện thoại di động tạm giữ của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội, nên cần trả lại.

[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung (là phạt tiền).

[8] Về án phí: Bị cáo không thuộc trường hợp được miễn, nên phải chịu án phí theo quy định chung.

[9] Về quan điểm của Kiểm sát viên như: Nội dung, tội danh và các vấn đề khác đối với bị cáo đều phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

    Tuyên bố bị cáo Đào Văn G phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

    Xử phạt: Đào Văn G 01 năm 05 tháng tù (một năm năm tháng). Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/6/2024.

  2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 và khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
    • Tịch thu tiêu huỷ: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu xanh đựng vật chứng ban đầu; 01 túi nilon màu trắng chứa 01 cục bột liên kết màu trắng có khối lượng 0,19 gam; được đựng trong 01 (một) phong bì thư của Công an huyện S, tỉnh Sơn La, đã được niêm phong kín và 01 (một) ống xi lanh bằng nhựa màu trắng gắn kim tiêm và nắp đậy màu trắng.
    • Trả lại cho bị cáo: 01 (một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO A58;

      (Theo Quyết định chuyển vật chứng số 57 ngày 08/10/2024 của Viện kiểm sát huyện S và biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/10/2024 giữa Chi cục thi hành án dân sự huyện Sốp Cộp và Công an sự huyện S, tỉnh Sơn La).

  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, các Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án ngày 22/10/2024.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La;
  • - VKSND huyện;
  • - THA hình sự;
  • - CCTHA Dân sự;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lường Văn Quyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2024/HS-ST ngày 22/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 02/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đào Văn G phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger