|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN TỈNH BẮC KẠN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 02/2024/HSST
Ngày 17/10/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt Thu.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nông Văn Quân;
2/ Bà Nông Thị Hiệp;
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Ông Hoàng Đức Biên - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 10 năm 2024, tại Hội trường xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2024/TLST - HS ngày 02/10/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2024/QĐXXST-HS ngày 03/10/2024 đối với bị cáo:
Hoàng Minh T (tên gọi khác: Không); sinh ngày 06 tháng 7 năm 1995 tại tỉnh Bắc Kạn; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn K, xã M, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hoàng Văn T1 và bà: Đinh Thị Q; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/6/2024 đến ngày 12/6/2024, sau đó được tại ngoại cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Hoàng Văn T1, sinh năm 1971; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trú tại: Thôn K, xã M, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13 giờ 10 phút, ngày 03/6/2024, tại khu vực tổ I, phường P, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, tổ công tác Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B bắt quả tang đối với Hoàng Minh T (sinh năm 1995, trú tại: thôn K, xã M, huyện B, tỉnh Bắc Kạn) về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Phát hiện và thu giữ tại khe hở phần nhựa trên động cơ xe mô tô biển kiểm soát 97B2-012.95 mà Hoàng Minh T điều khiển có có 01 (một) gói được gói bằng giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy loại Heroine (được niêm phong trong phong bì ký hiệu T). Ngoài ra, còn tạm giữ của Hoàng Minh T 01 (một) xi lanh nhựa chưa qua sử dụng; 01 (một) lọ nước cất và 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 97 B2 - 012.95. Cùng ngày Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở và các công trình, phương tiện liên quan tại nhà của Hoàng Minh T tại thôn K, xã M, huyện B nhưng không thu giữ được đồ vật, tài sản gì liên quan đến việc phạm tội.
Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B tiến hành mở niêm phong, C xác định khối lượng chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu T thu giữ của Hoàng Minh T, xác định khối lượng là 0,17 gam (không phẩy một bảy gam). Sau khi C xác định khối lượng, toàn bộ số chất bột màu trắng nói trên được cho vào 01 (một) túi nilon trong suốt, miệng túi có khóa zip có viền màu đỏ và niêm phong trong phong bì ký hiệu M1 gửi giám định; Vỏ phong bì ký hiệu T, lớp giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng cho vào trong phong bì ký hiệu M2 bảo quản theo quy định.
Tại Kết luận giám định số 196/KL-KTHS ngày 10/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,17g (không phẩy một bảy gam). Sau giám định, mẫu chất còn lại cùng phong bì, bao gói cũ niêm phong vào phong bì mới ký hiệu T121 hoàn trả lại Cơ quan điều tra.
Tại Cơ quan điều tra, Hoàng Minh T khai nhận: Toàn bộ số chất bột màu trắng bị thu giữ khi bắt quả tang là ma túy, loại heroine của T tàng trữ với mục đích để sử dụng cho bản thân. Về nguồn gốc số ma tuý, T khai nhận: Bản thân T là người nghiện ma túy, buổi sáng ngày 03/6/2024 T hỏi mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, biển kiểm soát 97B2 – 012.95 của bố đẻ là ông Hoàng Văn T1 (sinh năm 1971, trú tại: thôn K, xã M, huyện B, tỉnh Bắc Kạn) để đi chơi và ông T1 đồng ý giao xe mô tô cho T. Khoảng 09 giờ 00 ngày 03/6/2024, Hoàng Minh T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 97B2 – 012.95 đi từ nhà tại thôn K, xã M, huyện B, tỉnh Bắc Kạn đến đoạn ngã ba đường rẽ vào xã N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, tại đây Tranh ngồi uống nước ở một quán trà đá vỉa hè. Khoảng 12 giờ 00, ngày 03/6/2024, T lên cơn nghiện chất ma túy nên đã nảy sinh ý định đi mua ma túy, loại heroine về để sử dụng cho bản thân. Sau đó T tiếp tục điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 97B2-012.95 đi từ khu vực ngã ba đường rẽ vào xã N đến khu vực cầu P thành phố B thuộc tổ A, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn tìm mua ma túy về để sử dụng. Tại đây, Hoàng Minh T gặp một người đàn ông lạ mặt, không rõ lai lịch, địa chỉ, khoảng 40 tuổi, mặc áo chống nắng, đeo khẩu trang. Tranh hỏi người này có ma túy, loại heroine bán không thì người này nói là có. Tranh đưa cho người đàn ông này số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng), người này đưa cho T 01 (một) gói được gói bằng giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng là ma túy, loại heroine. Sau khi mua được ma túy, Hoàng Minh T cất giấu gói ma tuý trên vào khe hở phần nhựa trên động cơ xe mô tô, dưới đầu yên xe rồi đi tìm nơi để sử dụng ma túy. Hồi 13 giờ 10 phút, ngày 03/6/2024, khi Hoàng Minh T đến khu vực tổ I, phường P, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn thì bị lực lượng Công an kiểm tra, bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
2
Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Tại Bản Cáo trạng số 66/CT-VKSTPBK, ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn đã truy tố bị cáo Hoàng Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Điều luật có nội dung:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c) Heroine.....có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Tại phiên tòa:
*Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Hoàng Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Minh T từ 12 đến 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 03/6/2024 đến ngày 12/6/2024.
Hình phạt bổ sung: Đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
-Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T121; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu M2; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu X bên trong có: 01 (một) xi lanh nhựa chưa qua sử dụng, 01 (một) lọ nước cất.
Về án phí: Đề nghị miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
*Bị cáo Hoàng Minh T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, thừa nhận cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh, điều luật như trên là đúng người, đúng tội và mức hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, bị cáo không có ý kiến gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
3
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát thành phố B và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Minh T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy có đủ cơ sở xác định:
Hồi 13 giờ 10 phút, ngày 03/6/2024, tại tổ I, phường P, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, Hoàng Minh T có hành vi tàng trữ trái phép 0,17 (không phẩy một bảy gam) gam ma túy, loại Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân thì bị cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang.
Hoàng Minh T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật tuy nhiên do nghiện chất ma túy nên đã cố ý tàng trữ trái phép 0,17g (không phẩy một bảy gam) ma túy, loại Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Tội phạm mà bị cáo thực hiện thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, là mầm mống phát sinh các tệ nạn xã hội khác, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự xã hội tại địa phương nên cần xử lý theo pháp luật hình sự.
[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Bị cáo Hoàng Minh T có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
4
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo trong một khoảng thời gian nhất định nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung cho xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có công việc làm ổn định, không có tài sản riêng do vậy HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[7] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì có ký hiệu T121 và dòng chữ: “Mẫu hoàn trả sau giám định: Hoàng Minh T (1995) tàng trữ trái phép chất ma túy”. Mặt sau phong bì có 03 (ba) chữ ký không đọc được và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B, chứa chất ma túy thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì có ký hiệu M2 và dòng chữ: “Phong bì, túi nilon cũ lưu hồ sơ vụ án”. Mặt sau phong bì có 06 (sáu) chữ ký không đọc được, 01 (một) chữ ký tên “Tranh”, 01 (một) dòng chữ “Hoàng Minh T” 01 (một) dòng chữ “Trần Đức C1”, 01 (một) dòng chữ “Hứa Đình N” và 01 (một) dòng chữ “Vũ Văn T2”, bên trong chứa phong bì, túi nilon cũ, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì có ký hiệu “X”. Mặt sau phong bì có 05 (năm) chữ ký không đọc được, 01 (một) chữ ký tên “Tranh”, 01 (một) dòng chữ “Hoàng Minh T” 01 (một) dòng chữ “Vũ Văn T2”, bên trong có: 01 (một) xi lanh nhựa chưa qua sử dụng, 01 (một) lọ nước cất, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA; loại WAVE, màu sơn cam, đen bạc, biển kiểm soát 97 B2 - 012.95, qua điều tra xác định là tài sản hợp pháp của ông Hoàng Văn T1, sinh năm 1971, trú tại thôn K, xã M, huyện B, tỉnh Bắc Kạn (là bố đẻ và sống cùng nhà với Hoàng Minh T). Ông T1 không biết và không có lỗi trong việc để Hoàng Minh T sử dụng chiếc xe mô tô nói trên đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe cho ông T1 là đúng quy định.
[8] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và đã có đơn xin miễn án phí do vậy cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
5
[9] Đối với người đàn ông đã bán ma tuý cho Hoàng Minh T vào ngày 03/6/2024, tại cầu P, thuộc tổ A, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, do bị can không biết rõ họ tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không đủ cơ sở để xác minh, làm rõ.
[10] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt chính, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng và án phí đối với bị cáo là phù hợp, có cơ sở để chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Điều luật áp dụng và hình phạt đối với bị cáo:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Hoàng Minh T 13 (Mười ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 03/6/2024 đến ngày 12/6/2024.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì có ký hiệu T121 và dòng chữ: “Mẫu hoàn trả sau giám định: Hoàng Minh T (1995) tàng trữ trái phép chất ma túy”. Mặt sau phong bì có 03 (ba) chữ ký không đọc được và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn.
- + 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì có ký hiệu M2 và dòng chữ: “Phong bì, túi nilon cũ lưu hồ sơ vụ án”. Mặt sau phong bì có 06 (sáu) chữ ký không đọc được, 01 (một) chữ ký tên “Tranh”, 01 (một) dòng chữ “Hoàng Minh T” 01 (một) dòng chữ “Trần Đức C1”, 01 (một) dòng chữ “Hứa Đình N” và 01 (một) dòng chữ “Vũ Văn T2”. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn.
- + 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì có ký hiệu “X”. Mặt sau phong bì có 05 (năm) chữ ký không đọc được, 01 (một) chữ ký tên “Tranh”, 01 (một) dòng chữ “Hoàng Minh T” 01 (một) dòng chữ “Vũ Văn T2”. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Công an thành phố B và Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn).
6
4. Về án phí: Căn cứ điểm đ, khoản 1 Điều 12; Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hoàng Minh T.
5. Quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15(Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nguyệt Thu |
7
Bản án số 02/2024/HSST ngày 17/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 02/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Minh Tr phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS
