TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 02/2024/KDTM-ST Ngày: 30-9-2024 V/v: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN - TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Nhường.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Vương Tiến Chuẩn
- Bà Nguyễn Thị Công Mừng
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Văn Nam - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 08/2024/TLST-KDTM ngày 23 tháng 07 năm 2024 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2024/QĐST-KDTM ngày 30 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2024/QĐST-KDTM ngày 14 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP C – Chi nhánh B2 đại diện khởi kiện.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Bình M – Chủ tịch hội đồng Quản trị ngân hàng TMCP C.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Tiến M1 – Phó Giám đốc ngân hàng TMCP C - Chi nhánh B2.
Đại diện theo uỷ quyền tham gia tố tụng tại Toà án: Ông Nguyễn Huy N - Phó Phòng tổng hợp Ngân hàng TMCP C – Chi nhánh B2. (Có mặt)
Địa chỉ trụ sở chi nhánh: Số D N, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
- Bị đơn: Ông Chu Văn T, sinh năm 1981. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Hoàng Thị P, sinh năm 1985. (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 03/6/2024, tại bản tự khai, và các lời khai tiếp theo nguyên đơn Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh B2 (viết tắt là V1 hoặc Ngân hàng) do người đại diện theo uỷ quyền tham gia tố tụng tại Toà án ông Nguyễn Huy N trình bày:
Ông Chu Văn T có đăng ký hộ kinh doanh mua bán, tiêu thụ các mặt hàng nông sản; vận chuyển hàng hoá; cho thuê xe ô tô tự lái và có lái xe. Do có nhu cầu vay vốn nên ông Chu Văn T có làm hồ sơ vay vốn tại ngân hàng TMCP C - Chi nhánh B2 - Phòng giao dịch thị trấn C. Ngân hàng V1 – Chi nhánh B2 đã cấp tín dụng cho ông Chu Văn T theo hợp đồng cho vay hạn mức số 05-52203-36/2023-HĐCVHM-NHCT280 ngày 19/01/2023, mục đích cho vay để bổ sung vốn phục vụ kinh doanh với số tiền 640.000.000 (Sáu trăm bốn mươi triệu) đồng, lãi suất thoả thuận là 10,5%/năm hạn trả nợ vào ngày 19/07/2023. Ngân hàng đã giải ngân cho ông Chu Văn T toàn bộ số tiền trên, để đảm bảo cho khoản vay ông Chu Văn T có thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất diện tích 3009m² đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00216 QSDĐ số 1043 do UBND huyện L cấp ngày 01/11/2002 địa chỉ thửa đất tại thôn T (nay là thôn T), xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang, trong đó 2609m² là đất vườn, 400m² là đất ở. Tuy nhiên đến thời hạn trả nợ ông Chu Văn K thanh toán đồng tiền nợ cho ngân hàng V1 theo thoả thuận. Tính đến thời điểm hiện tại, khoản vay của ông Chu Văn T tại ngân hàng V1 đã chuyển nợ quá hạn toàn bộ, ngân hàng V1 đã nhiều lần gửi thông báo trả nợ và liên hệ làm việc với ông Chu Văn T yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo thoả thuận tại hợp đồng cho vay để thu hồi nợ, tuy nhiên ông Chu Văn T vẫn chưa trả nợ cho Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh B2.
Nay Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh B2 làm đơn khởi kiện đề nghị Toà án buộc ông Chu Văn T phải trả toàn bộ số tiền nợ Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh B2 theo hợp đồng cho vay hạn mức tính đến thời điểm ngày 06/3/2024 số tiền gốc 640.000.000 đồng (Sáu trăm bốn mươi triệu), tiền lãi trong hạn 63.133.350 đồng (Sáu mươi ba triệu một trăm ba mươi ba nghìn, ba trăm năm mươi đồng) và tiền lãi quá hạn là 26.456.481 đồng (Hai mươi sáu triệu, bốn trăm năm mươi sáu nghìn, bốn trăm tám mươi mốt đồng). Tổng cộng cả gốc và lãi là 729.589.831 đồng (Bảy trăm hai mươi chín triệu năm trăm tám mươi chín nghìn tám trăm ba mươi mốt đồng) và tiền lãi tiếp tục tính đến ngày xét xử vụ án.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Chu Văn T trình bày:
Gia đình anh làm nghề kinh doanh mua bán, tiêu thụ các mặt hàng nông sản, vận tải hàng hóa bằng xe ô tô tải, có thuê ô tô tự lái và có lái xe, được UBND huyện L cấp giấy đăng ký kinh doanh vào năm 2010. Do có nhu cầu vay vốn để tiếp tục hoạt động kinh doanh thì anh đã làm hồ sơ vay vốn tại ngân hàng TMCP C – Chi nhánh B2 – Phòng giao dịch thị trấn C, sau khi ngân hàng tiến hành thẩm định xem xét đã quyết định cho anh vay vốn với số tiền là 640.000.000 (sáu trăm bốn mươi triệu) đồng. ngày 19/01/2023 anh có ký với Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh B2, Phòng G hợp đồng vay vốn số 05-52203-36/2023 HĐCVHM/NHCT280 với lãi suất thỏa thuận là 10,5%/năm ngày trả nợ là 19/7/2023. Sau đó Ngân hàng đã giải ngân cho anh toàn bộ số tiền trên, để đảm bảo cho khoản vay anh có thể chấp tài sản là quyền sử dụng đất diện tích 3009m² đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W082581 số vàosổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00216 QSDĐ số 1043 do UBND huyện L cấp ngày 01/11/2002, địa chỉ thửa đất tại thôn T (nay là thôn T), xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang trong đó 2609m² là đất vườn 400m² đất ở, diện tích này là do ông Chu Văn A chuyển nhượng cho anh vào năm 2019, trên đất chỉ có cây cối và 01 cái nán. Sau khi vay số tiền nêu trên thì anh đã sử dụng toàn bộ vào kinh doanh tuy nhiên do điều kiện kinh doanh gặp nhiều khó khăn nên không thu hồi được vốn nên anh không thể thanh toán khoản nợ trên cho Ngân hàng khi đến hạn trả nợ cả gốc và lãi. Đến nay Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh B2 khởi kiện ra Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn đề nghị anh phải trả số tiền gốc là 640.000.000 đồng (Sáu trăm bốn mươi triệu đồng) và tiền lãi trong hạn 63.133.530 đồng (Sáu mươi ba triệu một trăm ba mươi ba nghìn năm trăm ba mươi đồng) và tiền lãi quá hạn là 26.456.481 đồng (Hai mươi sáu triệu bốn trăm năm mươi sáu nghìn bốn trăm tám mươi mốt nghìn). Tổng cả gốc và lãi là 729.589.831 đồng (Bảy trăm hai mươi chín triệu năm trăm tám mươi chín nghìn tám trăm ba mươi mốt đồng) tính đến ngày 06/3/2024 và tiền lãi tính đến ngày giải quyết vụ án thì anh đồng ý trả nợ Ngân hàng. Anh xác định từ khi vay vốn Ngân hàng đến nay do kinh tế khó khăn nên anh chưa trả được tiền gốc và tiền lãi nào cho Ngân hàng, phía Ngân hàng cũng đã thông báo cho anh nhiều lần nhưng anh chưa trả được. Do kinh tế khó khăn, anh có nguyện vọng Ngân hàng xem xét cho anh được trả phần tiền gốc cho Ngân hàng và cho anh được trả dần khoản tiền đó. Trường hợp anh không trả được thì anh đồng ý để Ngân hàng giải quyết tài sản thế chấp của anh tại Ngân hàng.
Trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Hoàng Thị Phương trình B:
Chị là vợ của anh Chu Văn T, gia đình chị làm nghề kinh doanh mua bán, tiêu thụ các mặt hàng nông sản, vận tải hàng hóa bằng xe ô tô tải, có thuê ô tô tự lái và có lái xe, được UBND huyện L cấp giấy đăng ký kinh doanh vào năm 2010. Do có nhu cầu vay vốn để tiếp tục hoạt động kinh doanh thì chị có biết chồng chị anh Chu Văn T làm hồ sơ vay vốn tại ngân hàng TMCP C – Chi nhánh B2 Phòng giao dịch thị trấn C, sau khi Ngân hàng tiến hành thẩm định xem xét đã quyết định cho anh T vay vốn với số tiền là 640.000.000 (sáu trăm bốn mươi triệu) đồng ngày 19/01/2023 anh Trung trí ký hợp đồng vay vốn với Ngân hàng số 05-52203-36/2023 HĐCVHM/NHCT280 với lãi suất thỏa thuận là 10,5%/năm ngày trả nợ là 19/7/2023. Sau đó Ngân hàng đã giải ngân cho anh T toàn bộ số tiền trên, để đảm bảo cho khoản vay anh T có thể chấp tài sản là quyền sử dụng đất diện tích 3009m² đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W082581 số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00216 QSDĐ số 1043 do UBND huyện L cấp ngày 01/11/2002 địa chỉ thửa đất tại thôn T (nay là thôn T), xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang trong đó 2609m² là đất vườn 400m² đất ở. Diện tích đất trên là do ông Chu Văn A bố đẻ anh Trung chuyển N1 cho chồng chị là anh Chu Văn T vào năm 2019, trên đất chỉ có cây cối và 01 cái nán. Sau khi vay số tiền nêu trên thì anh T đã sử dụng toàn bộ vào kinh doanh, tuy nhiên do điều kiện kinh doanh gặp nhiều khó khăn nên không thu hồi được vốn nên anh T không thể thanh toán khoản nợ trên cho Ngân hàng khi đến hạn trả nợ, đến nay Ngân hàng TMCP C khởi kiện ra Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn đề nghị anh Chu Văn T phải trả số tiền gốc là 640.000.000 đồng (Sáu trăm bốn mươi triệu đồng) và tiền lãi trong hạn 63.133.530 đồng (Sáu mươi ba triệu một trăm ba mươi ba nghìn năm trăm ba mươi đồng) và tiền lãi quá hạn là 26.456.481 đồng (Hai mươi sáu triệu bốn trăm năm mươi sáu nghìn bốn trăm tám mươi mốt nghìn) tổng cộng gốc và lãi là 729.589.831 đồng (Bảy trăm hai mươi chín triệu năm trăm tám mươi chín nghìn tám trăm ba mươi mốt đồng) tính đến ngày 06/3/2024 và tiền lãi tính đến ngày giải quyết vụ án thì chị nhất trí, chị xác định từ khi vay đến nay do kinh tế khó khăn nên anh chị chưa trả được tiền gốc và tiền lãi nào cho Ngân hàng, phía Ngân hàng cũng đã thông báo cho anh chị nhiều lần nhưng anh chị chưa trả được. Do kinh tế khó khăn, chị có nguyện vọng Ngân hàng xem xét cho vợ chồng chị được trả phần tiền gốc cho ngân hàng và cho vợ chồng chị được trả dần khoản tiền đó. Trường hợp anh chị không trả được thì chị đồng ý để ngân hàng giải quyết tài sản thế chấp của anh chị tại ngân hàng.
Quá trình giải quyết vụ án ngày 28/8/2024 Tòa án đã tiến hành thẩm định tài sản anh Chu Văn T đã thế chấp tại Ngân hàng là diện tích 3009m² đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W082581 số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00216 QSDĐ số 1043 do UBND huyện L cấp ngày 01/11/2002 địa chỉ thửa đất tại thôn T (nay là thôn T), xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang trong đó 2609m² là đất vườn 400m² đất ở đứng tên hộ ông Chu Văn A, ngày 14/6/2019 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L đính chính sang tên ông Chu Văn T, chuyển quyền sử dụng đất cho anh Chu Văn T theo hồ sơ số 2300 ngày 05/6/2019 và theo văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung của hộ gia đình ngày 29/5/2019. Kết quả: Trên đất có 01 ngôi nhà cấp 4 diện tích 20m², trên đất trồng toàn bộ cây vải ngoài ra không trồng cây nào khác. Phía bắc thửa đất giáp đất ông Lưu Văn D. Phía Nam thửa đất giáp với đất ông Bùi Văn H. Phía Đông thửa đất giáp với đất bà Ân Thị V. Phía Tây thửa đất giáp với đất ông Truyền Văn B1.
Tại phiên toà:
Đại diện theo uỷ quyền tham gia tố tụng tại Toà án của nguyên đơn là ông Nguyễn Huy N trình bày vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện: Tính đến ngày xét xử ngày 30/9/2024 thì ông Chu Văn T còn nợ ngân hàng tổng số tiền là 765.454.444 đồng (Bảy trăm sáu mươi lăm triệu bốn trăm năm mươi tư nghìn bốn trăm bốn mươi bốn đồng), trong đó số tiền nợ gốc là 640.000.000 đồng (Sáu trăm bốn mươi triệu đồng), lãi trong hạn là 85.042.391 đồng (T1 mươi lăm triệu không trăm bốn mươi hai nghìn ba trăm chín mươi mốt đồng), lãi quá hạn là 40.412.053 đồng (Bốn mươi triệu bốn trăm mười hai nghìn không trăm năm mươi ba đồng). Ngân hàng vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án buộc cá nhân ông Chu Văn T thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đến khi thực tế thanh toán hết khoản nợ. Trong trường hợp anh Chu Văn T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đề nghị Tòa án tuyên Ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của anh Chu Văn T đã thế chấp tại Ngân hàng để thu hồi nợ.
Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, Hội đồng xét xử công bố lời trình bày của những người này và những tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự. Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật, thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng nguyên tắc, trình tự tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 72, Điều 73 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 227, Điều 271, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 351, Điều 357, Điều 465, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015; Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng; Căn cứ 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
- Chấp yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP C – Chi nhánh B2 đối với ông Chu Văn T.
- Buộc anh Chu Văn T phải trả nợ cho Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh B2 theo hợp đồng tín dụng số 05-52203-36/2023-HĐCVHM-NHCT280 ngày 19/01/2023 số tiền nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm 30/9/2024 là 765.454.444 đồng (Bảy trăm sáu mươi lăm triệu bốn trăm năm mươi tư nghìn bốn trăm bốn mươi bốn đồng), trong đó: số tiền nợ gốc là 640.000.000 đồng (Sáu trăm bốn mươi triệu đồng), lãi trong hạn là 85.042.391 đồng (T1 mươi lăm triệu không trăm bốn mươi hai nghìn ba trăm chín mươi mốt đồng), lãi quá hạn là 40.412.053 đồng (Bốn mươi triệu bốn trăm mười hai nghìn không trăm năm mươi ba đồng). Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm anh Chu Văn T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Trong trường hợp ông Chu Văn T không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ cho Ngân hàng TMCP C – Chi nhánh B2 thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài của ông Chu Văn T đã thế chấp tại Ngân hàng theo theo quy định của Luật thi hành án dân sự để thu hồi nợ.
- Anh Chu Văn T phải trả cho Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh B2 số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn) tiền chi phí thẩm định tại chỗ.
- Về án phí: Ông Chu Văn T phải chịu 34.618.000 đồng (Ba mươi tư triệu sáu trăm mười tám nghìn đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Hoàn trả Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh tỉnh B2 số tiền 17.000.000 đồng (Mười bảy triệu đồng) tiền tạm ứng án phí tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang theo Biên lai thu số: 0006305 ngày 23/7/2024.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng
[1.1]. Về thẩm quyền giải quyết:
Bị đơn anh Chu Văn T có địa chỉ tại thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh B2 đối với khoản nợ của anh Chu Văn T vi phạm hợp đồng số 05-52203-36/2023-HĐCVHM-NHCT280 ngày 19/01/2023. Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh B2 và anh Chu Văn T đều có đăng ký kinh doanh. Do vậy, xác định đây là vụ án kinh doanh thương mại về tranh chấp hợp đồng tín dụng được quy định khoản 3 Điều 26, Khoản 1 Điều 30 của Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2]. Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng
Bị đơn anh Chu Văn T được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng tại phiên tòa vắng mặt lần thứ hai không có lý do, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Hoàng Thị P có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó căn cứ vào Điều 227 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết theo thủ tục chung và xét xử vắng mặt anh Chu Văn T và chị Hoàng Thị P.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy
[2.1]. Về việc ký kết hợp đồng
Hợp đồng tín dụng số: 05-52203-36/2023-HĐCVHM-NHCT280 ngày 19/01/2023 được lập thành văn bản, ký kết giữa nguyên đơn bị đơn là hoàn toàn tự nguyện, hình thức nội dung đều tuân thủ các quy định của pháp luật khi giao kết nên phù hợp quy định tại các Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng nên có hiệu lực thi hành đối các bên tham gia. Ngân hàng đã tiến hành giải ngân theo đúng nội dung đã cam kết trong hợp đồng tín dụng nhưng anh T lại không thực hiện theo đúng nghĩa vụ trả nợ, vi phạm nội dung đã thỏa thuận trong Điều 7 Hợp đồng tín dụng. Hợp đồng tín dụng được anh Chu Văn Trung trực T2 ký kết và nhận số tiền vay từ Ngân hàng, mục đích vay là để bổ sung vốn cho hoạt động kinh doanh của hộ kinh doanh do anh T là đại diện hộ kinh doanh. Bản thân chị Hoàng Thị P xác định mặc dù không ký kết vay nợ nhưng cũng nhất trí trả khoản nợ này cùng anh T. Tuy nhiên tại đơn khởi kiện cũng như tại phiên tòa Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh B2 chỉ yêu cầu cá nhân anh T trả khoản nợ đã vay. Do vậy, cần buộc cá nhân anh Chu Văn T phải trả số tiền gốc vay và lãi còn nợ cho Ngân hàng theo hợp đồng tín dụng hai bên đã ký kết là có căn cứ và phù hợp với các Điều 463 và Điều 470 Bộ luật dân sự năm 2015.
[2.2] Về yêu cầu lãi suất:
Theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 05-52203-36/2023-HĐCVHM-NHCT280 ngày 19/01/2023 thì lãi suất cho vay tại thời điểm ký kết hợp đồng là 10,5%/năm; lãi quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn; thời hạn anh Chu Văn T trả nợ là ngày 30/07/2023. Hội đồng xét xử xét thấy, mức lãi suất cho vay và cách tính lãi theo thỏa thuận giữa nguyên đơn với bị đơn trong hợp đồng tín dụng giữa các bên ký kết là tự nguyện, phù hợp với quy định của Ngân hàng N2 và phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi bổ sung năm 2017, phù hợp với quy định tại Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên cần được chấp nhận. Do bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng, lỗi vi phạm hợp đồng thuộc về bị đơn kéo dài thời gian trả nợ làm ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn nên căn cứ Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng anh Chu Văn T phải thanh toán toàn bộ số tiền còn nợ cho Ngân hàng và tiền lãi còn nợ tính đến ngày xét xử 30/9/2024 là 765.454.444 đồng (Bảy trăm sáu mươi lăm triệu bốn trăm năm mươi tư nghìn bốn trăm bốn mươi bốn đồng), trong đó nợ gốc là 640.000.000 đồng (Sáu trăm bốn mươi triệu đồng), nợ lãi trong hạn là 85.042.391 đồng (T1 mươi lăm triệu không trăm bốn mươi hai nghìn ba trăm chín mươi mốt đồng), lãi quá hạn là 40.412.053 đồng (Bốn mươi triệu bốn trăm mười hai nghìn không trăm năm mươi ba đồng) và tiếp tục phải trả lãi phát sinh theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận tại hợp đồng đã ký kết kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử (ngày 30/9/2024) cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
[2.3] Về yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm:
Khoản vay theo hợp đồng tín dụng số: 05-52203-36/2023-HĐCVHM-NHCT280 ngày 19/01/2023 có bảo đảm bằng hợp đồng thế chấp tài sản số 34-036/2019/HĐBĐ/NHCTCT280 ngày 02/07/2019 và Văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp số 46.1-053-36/2020/VBSĐHĐBĐ/NHCT280 ngày 15/07/2020 được công chứng tại Văn phòng C1. Theo quy định tại điểm a, Điều 5 của Hợp đồng hợp đồng tín dụng số: 05-52203-36/2023-HĐCVHM-NHCT280 ngày 19/01/2023 quy định “Các hợp đồng bảo đảm được xác lập trước và/hoặc cùng thời điểm ký kết hợp đồng này có quy định hoặc dẫn chiếu nghĩa vụ được bảo đảm bao gồm cả nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng này, gồm: i) Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 34-036/2019/HĐBĐ/NHCTCT280 ngày 02/07/2019 giữa Ngân hàng TMCP C – Chi nhánh B2 – PGD Chũ đối với ông Chu Văn T.” Do vậy, hợp đồng bảo đảm số 34-036/2019/HĐBĐ/NHCTCT280 ngày 02/07/2019 được bảo đảm cho khoản vay của anh Chu T theo hợp đồng tín dụng số 05-52203-36/2023-HĐCVHM-NHCT280 ngày 19/01/2023. Hợp đồng thế chấp được các bên xác lập tuân thủ đúng quy định về nội dung, hình thức, chủ thể giao kết hợp đồng có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự nên Hợp đồng công chứng là hợp pháp. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng diện tích đất 3009m² đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W082581 số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00216 QSDĐ số 1043 do UBND huyện L cấp ngày 01/11/2002 địa chỉ thửa đất tại thôn T (nay là thôn T), xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang trong đó 2609m² là đất vườn 400m² đất ở đứng tên hộ ông Chu Văn A, ngày 14/6/2019 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L đính chính sang tên anh Chu Văn T, (chuyển quyền sử dụng đất cho anh Chu Văn T theo hồ sơ số 2300 ngày 05/6/2019 và theo văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung của hộ gia đình ngày 29/5/2019). Sau khi ký kết hợp đồng được công chứng, tài sản thế chấp đã được thế chấp tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo đúng quy định của pháp luật. Theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 28/8/2024, tài sản gắn liền với đất hiện là 01 ngôi nhà cấp 4 diện tích 20m², trên đất trồng toàn bộ cây vải ngoài ra không trồng cây nào khác. Tại điểm d, 4.09 Điều 4 về quyền và trách nhiệm của bên thế chấp quy định “Sẽ bàn giao Tài sản thế chấp và chịu mọi chi phí, phí tổn liên quan đến việc bàn giao, xử lý tài sản thế chấp khi nhận được Thông báo xử lý tài sản của bên nhận thế chấp”. Thỏa thuận này là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên hợp pháp. Trường hợp anh T chị P1 không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ cho khoản vay theo hợp đồng tín dụng số 05-52203-36/2023-HĐCVHM-NHCT280 ngày 19/01/2023 thì Ngân hàng TMCP C – Chi nhánh B2 được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất tích đất 3009m² đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W082581 số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00216 QSDĐ số 1043 do UBND huyện L cấp ngày 01/11/2002 địa chỉ thửa đất tại thôn T (nay là thôn T), xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang trong đó 2609m² là đất vườn 400m² đất ở đứng tên hộ ông Chu Văn A, ngày 14/6/2019 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L đính chính sang tên anh Chu Văn T, (chuyển quyền sử dụng đất cho anh Chu Văn T theo hồ sơ số 2300 ngày 05/6/2019 và theo văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung của hộ gia đình ngày 29/5/2019).
[3] Do yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận nên bị đơn anh Chu Văn T phải trả cho Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh B2 số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn) Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh B2 đã nộp để chi phí thẩm định tại chỗ theo quy định tại Điều 157, Điều 158 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[4] Về án phí:
Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 củaỦy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sửdụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc anh Chu Văn T phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Hoàn trả Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh B2 số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[5] Đối với ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang:
đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nghĩa vụ chịu chi phí thẩm định tại chỗ, án phí phù hợp với các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.
[6] Về quyền kháng cáo:
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 227, Điều 271, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Căn cứ các Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 351, Điều 357, Điều 465, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
- Căn cứ các Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng;
- Căn cứ 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh B2 đối với anh Chu Văn T.
- Buộc anh Chu Văn T phải trả nợ cho Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh B2 theo hợp đồng tín dụng số 05-52203-36/2023-HĐCVHM-NHCT280 ngày 19/01/2023 số tiền nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm 30/9/2024 là 765.454.444 đồng (Bảy trăm sáu mươi lăm triệu bốn trăm năm mươi tư nghìn bốn trăm bốn mươi bốn đồng), trong đó: số tiền nợ gốc là 640.000.000 đồng (Sáu trăm bốn mươi triệu đồng), lãi trong hạn là 85.042.391 đồng (T1 mươi lăm triệu không trăm bốn mươi hai nghìn ba trăm chín mươi mốt đồng), lãi quá hạn là 40.412.053 đồng (Bốn mươi triệu bốn trăm mười hai nghìn không trăm năm mươi ba đồng). Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ông Chu Văn T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Trong trường hợp anh Chu Văn T không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ cho Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh B2 theo hợp đồng theo hợp đồng tín dụng số 05-52203-36/2023-HĐCVHM-NHCT280 ngày 19/01/2023 thì Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh B2 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mại toàn bộ tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tích đất 3009m² đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W082581 số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00216 QSDĐ số 1043 do UBND huyện L cấp ngày 01/11/2002 địa chỉ thửa đất tại thôn T (nay là thôn T), xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang trong đó 2609m² là đất vườn 400m² đất ở đứng tên hộ ông Chu Văn A, ngày 14/6/2019 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L đính chính sang tên anh Chu Văn T, (chuyển quyền sử dụng đất cho anh Chu Văn T theo hồ sơ số 2300 ngày 05/6/2019 và theo văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung của hộ gia đình ngày 29/5/2019).
- Anh Chu Văn T phải trả cho Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh tỉnh B2 số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn) tiền chi phí thẩm định tại chỗ.
- Về án phí: Ông Chu Văn T phải chịu 34.618.000 đồng (Ba mươi tư triệu sáu trăm mười tám nghìn đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Hoàn trả Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh B2 số tiền 17.000.000 đồng (Mười bảy triệu đồng) tiền tạm ứng án phí tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang theo Biên lai thu số: 0006305 ngày 23/7/2024.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dânsự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thihành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tạiĐiều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (đã ký) Nguyễn Đức Nhường |
Bản án số 02/2024/KDTM-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN - TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 02/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN - TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: cxvcxv
