Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

Q. CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2024/KDTM-ST;

Ngày: 31/5/2024;

V/v: “Tranh chấp hợp đồng

thi công xây dựng công trình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, TP ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phùng Văn Nhớ
  • - Các hội thẩm nhân dân:Ông Mai Văn Du
  • Ông Trần Đức Hiếu
  • - Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cẩm Anh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thu Sương - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 02/2024/TLST-KDTM ngày 20 tháng 01 năm 2024 về "Tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng" theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2024/QĐXXST-KDTM ngày 11 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số 54/2024/QĐST-KDTM ngày 03 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty TNHH Một thành viên C2, Trụ sở: tổ A phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Minh C, chức vụ: Giám đốc. Người đại diện theo uỷ quyền ông Nguyễn Tấn N; sinh năm: 1991; trú tại: tổ16, phường H, quận L, TP Đà Nẵng (ông N có mặt tại phiên toà).

2. Bị đơn: Công ty Cổ phần Đ; Trụ sở: 335 M, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Phước Quý C1, chức vụ: Giám đốc (ông C1 có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn như sau:

Công ty TNHH MTV C2 là đơn vị được nhận lại thi công một số hạng mục trong gói thầu 12-XL (Km 24+900 đến Km 47+000), dự án thành phần đoạn Q - C thuộc dự án xây dựng công trình đường bộ cao tốc Bắc - N. Để đẩy nhanh tiến độ thi công, công ty chúng tôi có nhu cầu hợp tác với một số đối tác để tăng cường thêm máy móc thiết bị. Công ty Cổ phần Đ do ông Lê Phước Quý C1 làm giám đốc, thông qua người quen giới thiệu, Công ty Đ đã chủ động liên hệ với công ty C3 để nhận thi công, qua các lần gặp gỡ ông C1 khẳng định có đầy đủ năng lực, máy móc, thiết bị để thi công hạng mục “Cọc khoan nhồi, mố trụ cầu, lan can, dầm ngang, bản mặt của cầu K 34+911” đáp ứng yêu cầu của Công ty chúng tôi đưa ra.

Sau khi thương thảo về giá, tiến độ thi công, Công ty TNHH MTV C2 và Công ty CP Đ đã ký hợp đồng số 01CT/HĐTC/CQ-THF-ngày 16 tháng 02 năm 2023 về việc “Thi công xây dựng hạng mục: cọc khoan nhồi, mố trụ cầu, lan can, dầm ngang, bản mặt Km 34+911". Sau khi ký hợp đồng, vào ngày 17/02/2023, ông Lê Phước Quý C1 trao đổi là hiện công ty ông C1 đang làm việc với Ngân hàng để phát hành chứng thư bảo lãnh nhưng 01 tháng sau mới có chứng thư, hiện phía công ty ông C1 đang khó khăn về dòng tiền, muốn ứng trước 500.000.000đ (năm trăm triệu đồng) để tập hợp máy móc, phương tiện, nhân công để phục vụ thi công theo hợp đồng, ông C1 cam kết sẽ triển khai ngay các bước chuẩn bị thi công và cung cấp chứng thư bảo lãnh của Ngân hàng trong thời gian sớm nhất. Tin tưởng lời ông C1 nói là thật, Công ty đã đồng ý đã duyệt ủy nhiệm chi chuyển tiền các số 632379623021700001, 632379623021700002, chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng C4 mở tại Ngân hàng B Chi nhánh H, Đà Nẵng sang tài khoản ngân hàng số [...] của Công ty Cổ phần Đ mở tại Ngân hàng V. Tuy nhiên, sau khi nhận được tạm ứng THT 79 vẫn không gửi bảo lãnh tiền tạm ứng và không tập kết máy móc, thiết bị, nhân công, để phục vụ thi công.

Ngày 05/06/2023 Công ty chúng tôi có mời đại điện Công ty CP Đ là ông Lê Phước Quý C1 để làm việc. Tại đây, Ông Lê Phước Quý C1 đã thừa nhận các hành vi vi phạm hợp đồng và cam kết hoàn trả tiền theo kế hoạch như sau:
1.Ngày 16/06/2023 hoàn trả: 200.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm triệu đồng).
2. Ngày 15/07/2023 hoàn trả: 300.000.000 đồng (Bằng chữ: Ba trăm triệu đồng).

Đến ngày 13/07/2023, Ông Lê Phước Quý C1 tiếp tục gửi tờ trình xin gia hạn thời gian khắc phục hậu quả, hoàn trả số tiền trên từ 45 đến 60 ngày do điều kiện kinh tế gặp nhiều khó khăn. Nhưng tính đến ngày 29/11/2023, hết thời gian gia hạn, Ông Lê Phước Quý C1 chỉ hoàn trả được 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng), theo cam kết hoàn trả tiền đợt 1 đã chậm trễ 166 ngày. Công ty chúng tôi đã cố gắng tìm mọi cách liên lạc để yêu cầu Công ty CP Đ thực hiện cam kết nhưng vẫn không thể liên lạc được. Công ty TNHH Một thành viên C2 yêu cầu Toà án giải quyết buộc Công ty Cổ phần Đ phải thanh toán số tiền: 516.750.000 đồng, trong đó: Số tiền còn nợ theo giấy cam kết là 480.000.000 đồng và tiền lãi chậm trả là: 36.750.000 đồng. Ngày 30/5/2024, nguyên đơn có đơn xin rút yêu cầu tính tiền lãi chỉ yêu cầu trả số tiền gốc là 480.000.000 đồng.

* Bị đơn đã được Tòa triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và không có lời khai trong hồ sơ vụ án.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ tại phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, nguyên đơn đã chấp hành đúng những quy định của BLTTDS, riêng bị đơn chưa thực hiện đúng nghĩa vụ của mình.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Một thành viên C2. Buộc Công ty CP Đ phải thanh toán cho Công ty TNHH Một thành viên C2 số tiền là 480.000.000đ (bốn trăm tám mươi triệu đồng). Đình chỉ về việc yêu cầu tính lãi của Công ty TNHH Một thành viên C2 đối với Công ty CP Đ số tiền là tiền lãi chậm trả là: 36.750.000 đồng.

Các đương sự phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự và quan điểm giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

[1] Về quan hệ pháp luật: Theo đơn khởi kiện đề ngày 29/11/2024 thì nguyên đơn Công ty TNHH Một thành viên C2 yêu cầu bị đơn Công ty CP Đ phải thanh toán số tiền còn nợ theo Hợp đồng Thi công xây dựng công trình. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự, quan hệ pháp luật là tranh chấp kinh doanh thương mại về hợp đồng thi công xây dựng công trình,.

[2] Về thẩm quyền: Bị đơn Công ty CP Đ có trụ sở tại C M, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng có thẩm quyền giải quyết.

[3] Tại phiên tòa hôm nay, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng bị đơn vẫn vắng mặt. Vì vậy, áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[4] Về nội dung:

[4.1] Tại phiên tòa hôm nay, Công ty TNHH Một thành viên C2 vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc Công ty CP Đ phải có nghĩa vụ hoàn trả lại cho công ty số tiền đã tạm ứng là 480.000.000đ (bốn trăm tám mươi triệu đồng) và rút yêu cầu tính lãi. Xét thấy, việc rút yêu cầu nói trên là hoàn toàn tự nguyện, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217, khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với yêu cầu nói trên của nguyên đơn.

[4.2] HĐXX căn cứ các chứng cứ mà nguyên đơn xuất trình có căn cứ xác định: Hợp đồng Thi công xây dựng công trình ngày 16/02/2023 giữa Công ty TNHH Một thành viên C2 (Bên giao thầu - Bên A) và Công ty CP Đ (Bên nhận thầu - Bên B) có ký kết hợp đồng về việc thi công hạng mục “Cọc khoan nhồi, mố trụ cầu, lan can, dầm ngang, bản mặt của cầu Km 34+911” trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, các chủ thể tham gia ký kết có đầy đủ năng lực trách nhiệm dân sự. Hợp đồng nêu trên có hình thức và nội dung phù hợp với quy định tại Điều 138 của Luật Xây dựng nên có hiệu lực đối với các bên tham gia giao dịch nên được pháp luật công nhận và bảo vệ. Tại Điều 3 Hợp đồng quy định thời gian thực hiện là 05 ngày kể từ ngày ký hợp đồng này. Sau khi ký hợp đồng, Công ty CP Đ đã ứng trước 500.000.000 đ (năm trăm triệu đồng) và cam kết sẽ triển khai ngay các bước chuẩn bị thi công, Công ty C2 đã đồng ý duyệt ủy nhiệm chi chuyển tiền các số 632379623021700001, 632379623021700002,chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng C4 mở tại Ngân hàng B Chi nhánh H, Đà Nẵng sang tài khoản ngân hàng số [...] của Công ty Cổ phần Đ mở tại Ngân hàng V. Tuy nhiên sau khi nhận tiền Công ty CP Đ vẫn không triển khai dự án như đã cam kết, do đó vào ngày 27/3/2023 Công ty TNHH Một thành viên C2 đã có thông báo số 2703/TB2023/CQ về việc thông báo vi phạm và chấm dứt hợp đồng số 01CT/HĐTC/CQ-THT và yêu cầu Công ty CP Đ hoàn trả lại số tiền đã tạm ứng là 500.000.000 đồng. Đến ngày 05/06/2023 ông Lê Phước Quý C1 là đại diện theo pháp luật của Công ty đã viết giấy cam kết hoàn trả tiền theo kế hoạch như sau: 1. Ngày 16/06/2023 hoàn trả: 200.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm triệu đồng). 2. Ngày 15/07/2023 hoàn trả: 300.000.000 đồng (Bằng chữ: Ba trăm triệu đồng). Đến ngày 13/07/2023, Ông Lê Phước Quý C1 tiếp tục gửi tờ trình xin gia hạn thời gian khắc phục hậu quả, hoàn trả số tiền trên từ 45 đến 60 ngày do điều kiện kinh tế gặp nhiều khó khăn.Tuy nhiên đến thời gian trên Công ty CP Đ chỉ chuyển trả cho Công ty TNHH Một thành viên C2 số tiền 20.000.000 đồng. Việc bị đơn vi phạm nghĩa vụ hoàn trả số tiền đã nhận tạm ứng do không thực hiện Hợp đồng thi công xây dựng công cho nguyên đơn là vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 114 của Luật Xây dựng, xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của nguyên đơn.

Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc Công ty CP Đ trả số tiền 480.000.000 đồng là có cơ sở và phù hợp với quy định pháp luật nên HĐXX chấp nhận.

[5] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ý kiến của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Về án phí: Nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Bị đơn Công ty CP Đ phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

  • - Điều 30, 35, 39, 147, 271, 272 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Điều 114, 144, 145, của Luật Xây dựng;
  • - Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
  • - Khoản2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Một thành viên C2 đối với Công ty CP Đ về việc tranh chấp Hợp đồng thi công xây dựng công trình.

Tuyên xử:

1. Buộc Công ty CP Đ phải thanh toán cho Công ty TNHH Một thành viên C2 số tiền là 480.000.000đ (bốn trăm tám mươi triệu đồng).

Kể từ ngày Công ty TNHH Một thành viên C2 có đơn yêu cầu thi hành án nếu Công ty CP Đ không thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự.

2. Đình chỉ về việc yêu cầu tính lãi của Công ty TNHH Một thành viên C2 đối với Công ty CP Đ số tiền là tiền lãi chậm trả là: 36.750.000 đồng.

3. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

- Công ty CP Đ phải chịu 23.200.000 đ (hai mươi ba triệu hai trăm ngàn đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

- Công ty TNHH Một thành viên C2 được hoàn trả 12.335.000đ (mười hai triệu ba trăm ba mươi lăm ngàn đồng đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000571 ngày 10/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

4. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự.Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADS quận Cẩm Lệ;
  • - VKSND quận Cẩm Lệ;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phùng Văn Nhớ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2024/KDTM-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, TP ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng công trình

  • Số bản án: 02/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng công trình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, TP ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng công trình
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger