|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG HOÀ TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 26/2024/HS-ST Ngày 11/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Đặng Thị Thu Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Văn Thư và ông Lê Thanh Khảnh
Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Huệ- Thư ký Toà án nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa tham gia phiên toà: ông Lê Ngọc Phong - Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 14/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 10/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn P, tên gọi khác: không; giới tính: nam; sinh ngày: 19/4/1993 tại Phú Yên; nơi cư trú: khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; cha: Nguyễn Văn L, sinh năm 1968; mẹ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1969; gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai; tiền án, tiền sự: không. Bị bắt tạm giam từ ngày 07/11/2023, có mặt.
* Bị hại: Công ty cổ phần X2; địa chỉ: F Quốc lộ C, phường M, thành phố C, tỉnh Đông Tháp, do bà Lương Thị Hương G, sinh năm 1967; địa chỉ: 1 L, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh Tổng Giám đốc là người đại điện theo pháp luật.
Người đại diện theo ủy quyền: ông Lê Quang Đ, sinh năm 1978; địa chỉ: B Đường A, khu đô thị V, xã V, Thành phố N, tỉnh Khánh Hòa là Giám đốc Công ty cổ phần X2 chi nhánh T24, có mặt.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Trần Văn S, sinh năm:1989; địa chỉ: H ấp P, xã T, TP ., tỉnh Đồng Tháp; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Nguyễn Thị Tố U, sinh năm: 1996; địa chỉ: thôn T, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Võ Hồng V, sinh năm:1991; địa chỉ: khóm T, trị trấn T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Nguyễn Thanh Q, sinh năm: 1990; địa chỉ: 2 L, phường B, TP ., Phú Yên; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Nguyễn Văn L, sinh năm:1968; địa chỉ: khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên.
- Nguyễn Thị Hồng D, sinh năm: 1976; địa chỉ: Khu phố B, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên.
- Nguyễn Thị Kim S1, sinh năm:1973; địa chỉ: khu phố B, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên.
- Nguyễn Lê Kim X, sinh năm: 1991; địa chỉ: Khu phố B, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên.
- Nguyễn Thị Kim P1, sinh năm: 1984; địa chỉ: khu phố T, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên.
- Nguyễn Thị L1, sinh năm: 1975; địa chỉ: khu phố U, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên.
- Nguyễn Thị Kiều T1, sinh năm: 1991; địa chỉ: Khu phố B, phường P, TP ., tỉnh Phú Yên.
- Võ Thị Thu P2, sinh năm: 1994; địa chỉ: thôn V, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên.
- Nguyễn Văn T2, sinh năm: 1973; địa chỉ: khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên.
- Huỳnh Thị Hồng N, sinh năm: 1984; địa chỉ: thôn V, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên.
- Trần Thị Thu T3, sinh năm: 1993; địa chỉ: A L, Phường D, TP ., tỉnh Phú Yên.
- Nguyễn Thị Bích T4, sinh năm: 1964; địa chỉ: B N, phường E, TP ., thành phố T, tỉnh Phú Yên.
- Nguyễn Thị Bích P3, sinh năm: 1995; địa chỉ: thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên;
- Phan Nguyễn Đan P4, sinh năm: 1992; địa chỉ: H T, phường P, TP ., tỉnh Phú Yên.
- Nguyễn Đức H, sinh năm: 1972; địa chỉ: thôn C, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Phạm Thị H1, sinh năm: 1980; đia chỉ: thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên.
- Nguyễn Văn Bình sinh năm 1973; địa chỉ: thôn N, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Nguyễn Thị Như T5, sinh năm: 1986; địa chỉ: thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên.
- Đinh Thị Bích T6, sinh năm: 1969; địa chỉ: thôn N, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên.
- Lê Thị Thanh T7, sinh năm: 1990; địa chỉ: thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên;
- Nguyễn Văn B, sinh năm: 1983; địa chỉ: thôn T, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên.
- Phan Thị Đ1, sinh năm: 1971; Địa chỉ: thôn N, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Lê Nguyên T8, sinh năm: 1983; địa chỉ: khu phố T, thị trấn C, huyện S, tỉnh Phú Yên.
- Nguyễn C, sinh năm: 1955; địa chỉ: khu phố T, thị trấn C, huyện S, tỉnh Phú Yên.
- Nguyễn Thị T9, sinh năm: 1980; địa chỉ: khu phố B, thị trấn C, huyện S, tỉnh Phú Yên; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Nguyễn Thị Thúy T10, sinh năm: 1986; địa chỉ: thôn T, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên.
- Nguyễn Bá T11, sinh năm: 1979; địa chỉ: thôn T, xã Đ, huyện S, tỉnh Phú Yên.
- Trần Quốc T12, sinh năm: 1992; địa chỉ: Thôn B, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên.
- Cao Thị H2, sinh năm: 1995; địa chỉ: khu phố P, thị trấn P, huyện T, tỉnh Phú Yên.
- Lê Bá T13, sinh năm: 1985; địa chỉ: thôn H, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên.
- Nguyễn Thị M, sinh năm: 1986; địa chỉ: thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên.
- Trương Thị Ngọc T14, sinh năm:1971; địa chỉ: thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên.
- Phạm Ngọc P5, sinh năm: 1982; địa chỉ: khu phố P, thị trấn P, huyện T, tỉnh Phú Yên.
- Nguyễn Thị P6, sinh năm: 1992; địa chỉ: thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên.
- Trần Thị Kim Y, sinh năm: 1981; địa chỉ: thôn M, xã S, huyện T, tỉnh Phú Yên.
- Nguyễn Thị T, sinh năm: 1969; địa chỉ: khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên.
Tất cả đều vắng mặt.
* Người làm chứng:
- Nguyễn Văn P7, sinh năm: 1967; địa chỉ: Khu phố C, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên.
- Nguyễn Thị Ái L2, sinh năm: 1970; địa chỉ: thôn Q, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên.
- Nguyễn Thị Châu T15, sinh năm: 1980; địa chỉ: khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên.
- Nguyễn Thị Kiều H3, sinh năm: 1988; địa chỉ: khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Nguyễn Thị L3, sinh năm: 1972; địa chỉ: Khu phố B, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên.
- Nguyễn Thị T16, sinh năm: 1952; địa chỉ: khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên.
- Trần Ngọc Kiều T17, sinh năm: 1997; địa chỉ: 1 N, Phường F, TP ., tỉnh Phú Yên.
- Nguyễn Thị Thanh T18, sinh năm: 1992; địa chỉ: thôn N, xã B, TP ., tỉnh Phú Yên.
- Nguyễn Ngọc Q1 sinh năm 1981; địa chỉ: C N, Phường D, TP ., tỉnh Phú Yên.
- Phạm Phi Đ2, sinh năm: 1971; địa chỉ: B N, Phường D, TP ., tỉnh Phú Yên.
- Mạnh Trần Ái T19, sinh năm: 1995; địa chỉ: thôn Đ, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên.
- Nguyễn Thị Mỹ L4, sinh năm: 1969; địa chỉ: I T, Phường E, TP ., tỉnh Phú Yên.
- Bùi Thị Ánh M1, sinh năm: 1969; địa chỉ: E N, Khu phố A, phường P, TP , tỉnh Phú Yên.
- Nguyễn Thị Bích P3, sinh năm: 1995; địa chỉ: thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên.
- Mai Văn H4, sinh năm: 1966; địa chỉ: Khu phố A, phường P, TP ., tỉnh Phú Yên.
- Nguyễn Thị Trúc L5, sinh năm: 1984; địa chỉ: thôn T, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên.
- Mai Thị Thanh H5, sinh năm: 1990; địa chỉ: 1 N, khu phố N, Phường E, TP ., tỉnh Phú Yên.
- Phạm Thái Minh V1, sinh năm: 1993; địa chỉ: B L, khu phố L, Phường E, TP ., tỉnh Phú Yên; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Nguyễn Công H6, sinh năm: 1965; địa chỉ: B L, khu phố L, Phường E, TP .; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Dương Thị Thu P8, sinh năm: 1969; địa chỉ: A N, khu phố C, Phường E, TP ., tỉnh Phú Yên.
- Nguyễn Thị Mỹ H7, sinh năm: 1970; địa chỉ: Lô A, Phường E, TP ., tỉnh Phú Yên.
- Võ Thị Anh T20, sinh năm: 1977; địa chỉ: B T, Phường G, TP ., tỉnh Phú Yên.
- Nguyễn Thị P9, sinh năm: 1974; địa chỉ: thôn V, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên.
- Nguyễn Thị Hồng T21, sinh năm: 1979; địa chỉ: thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên.
- Nguyễn Trần Duy T22, sinh năm: 1993; địa chỉ: E P, Phường A, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
- Nguyễn Thị B1, sinh năm: 1986; địa chỉ: khu phố Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Yên.
- Nguyễn Thị Kim T23, sinh năm: 1993; địa chỉ: thôn Đ, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên.
- Trần Thị Ái N1, sinh năm: 1988; địa chỉ: thôn Đ, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên.
- Trần Thị Thu T3, sinh năm: 1981; địa chỉ: thôn Q, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Nguyễn Thị H3, sinh năm: 1974; địa chỉ: C L, thị trấn H, huyện S, tỉnh Phú Yên; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Trương Thị Ngọc T14, sinh năm: 1971; địa chỉ: thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên;
- Phạm Ngọc P5, sinh năm: 1982; địa chỉ: khu phố P, thị trấn P, huyện T, tỉnh Phú Yên.
- Nguyễn Thị P6, sinh năm: 1992; địa chỉ: thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên.
- Trần Thị Kim Y, sinh năm: 1981; địa chỉ: thôn M, xã S, huyện T, tỉnh Phú Yên.
Bà T16, chị T18 có mặt. Còn lại tất cả đều vắng nặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Công ty cổ phần X2 (viết tắt Công ty X2) địa chỉ số F Quốc lộ C, phường M, thành phố C, tỉnh Đông Tháp do Lương Thị Hương G làm Tổng giám đốc, người đại diện theo pháp luật. Ngày 12/8/2011, Công ty X2 thành lập Chi nhánh T24, địa chỉ số B đường A, Khu đô thị V, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa do Lê Quang Đ làm giám đốc chi nhánh.
Ngày 04/7/2022, Công ty X2 ký hợp đồng lao động với Nguyễn Văn P làm việc tại Chi nhánh T24, được giao nhiệm vụ bán hàng, quản lý công nợ tại tỉnh Phú Yên và có trách nhiệm thu tiền bán hàng nộp về Công ty bằng hình thức tiền mặt hoặc chuyển khoản trong thời hạn 24 giờ kể từ khi thu tiền, P được trang bị máy tính bảng để phục vụ công việc.
Quá trình bán hàng, P nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền Công ty để tiêu xài cá nhân. Từ ngày 25/8/2022 đến ngày 05/12/2022, P đã lập danh sách 63 nhà thuốc, sau đó sử dụng máy tính bảng, vào ứng dụng bán hàng được cài đặt sẵn, tạo ra 117 đơn hàng gửi về Công ty X2 - Chi nhánh T24. Cụ thể:
Thị xã Đ có 14 nhà thuốc gồm nhà thuốc Bảo Tiến của Nguyễn Thị Hồng D, nhà thuốc Phú Sương của Nguyễn Văn P7, nhà thuốc Kim Sen của Nguyễn Thị Kim S1, nhà thuốc Ái L2 của Nguyễn Thị Ái L2, nhà thuốc Kim Xinh của Nguyễn Lê Kim X, nhà thuốc Châu Tuyết của Nguyễn Thị Châu T15, nhà thuốc P của Nguyễn Thị Kiều H3, nhà thuốc Kim Phụng của Nguyễn Thị Kim P1, nhà thuốc Thuận Lắm của Nguyễn Thị L1, nhà thuốc Đông Dương của Nguyễn Thị L3, nhà thuốc T của Nguyễn Thị Kiều T1, nhà thuốc B của Võ Thị Thu P2, nhà thuốc Lập Trâm của Nguyễn Thị T16, nhà T của Nguyễn Văn T2.
Thành phố T có 23 nhà thuốc gồm nhà thuốc Nhật Minh của Trần Ngọc Kiều T17, nhà thuốc Âu Viết của Nguyễn Thị Thanh T18, Nhà thuốc Âu Việt của Nguyễn Ngọc Q1, nhà thuốc Tâm Hưng của Trần Thị Thu T3, nhà thuốc Thiên Ân của Phạm Phi Đ2, nhà thuốc Nguyên Tín của Nguyễn Thị Bích T4, nhà thuốc Mạnh Thy của M2 Trần Ái T19, nhà thuốc Phương Tài của Nguyễn Thị Mỹ L4, nhà thuốc Ánh Mận của Bùi Thị Ánh M1, nhà thuốc Phương D1 của Nguyễn Thị Bích P3, nhà thuốc Ái Thuận của Mai Văn H4, nhà thuốc An Sinh của Nguyễn Thị Trúc L5, nhà thuốc Thiện Bình của Mai Thị Thanh H5, nhà thuốc Mỹ Sang của Phạm Thái Minh V1, nhà thuốc Ngọc Á của Nguyễn Công H6, Nhà thuốc Thu Phượng của Dương Thị Thu P8, nhà thuốc Phương A của Nguyễn Thị Mỹ H7, nhà thuốc Trường Phúc của Võ Thị Anh T20, nhà thuốc Tường Vy 322, nhà thuốc Tường Vi TVP của Phan Nguyễn Đan P4, nhà thuốc Nghĩa Tín của Nguyễn Thị P9, nhà thuốc Trường Hưng của Nguyễn Thị Hồng T21, nhà thuốc Đ của Nguyễn Trần Duy T22.
Huyện P có 10 nhà thuốc gồm nhà thuốc Thảo Nguyên của Nguyễn Thị B1, nhà thuốc Hòa Trinh của Nguyễn Đức H, nhà thuốc Hòa Thắng của Phạm Thị H1, nhà thuốc Thu Bình của Nguyễn Văn B, nhà thuốc Trang Ngọc của Nguyễn Thị Như T5, nhà thuốc Kim Tuyến của Nguyễn Thị Kim T23, nhà thuốc Minh C1 của Trần Thị Ái N1, nhà thuốc T của Trần Thị Thu T3, nhà thuốc Bích Thư của Đinh Thị Bích T6, nhà thuốc Chiến Hiếu của Lê Thị Thanh T7.
Huyện S có 06 nhà thuốc gồm nhà thuốc Bình Hoàng của Nguyễn Văn B, nhà thuốc Đào của Phan Thị Đ1, nhà thuốc Hồng Ngọc của Lê Nguyên T8, Nhà thuốc Hồng Thanh N2 của Nguyễn C, nhà thuốc Thiên Trà của Nguyễn Thị T9, nhà thuốc Thiên Triều của Nguyễn Thị Thúy T10. Huyện S có 03 nhà thuốc gồm nhà thuốc An Phú của Nguyễn Bá T11, nhà thuốc Quốc Thân của Trần Quốc T12, nhà thuốc Tiến Dũng của Nguyễn Thị H3.
Huyện T có 07 nhà thuốc gồm nhà thuốc Lê Thị X1 của Cao Thị H2, nhà thuốc Nhân An của Lê Bá T13, nhà thuốc Tân My của Nguyễn Thị M, nhà thuốc Ngọc T14 của Trương Thị Ngọc T14, nhà thuốc Ngọc D2 của Phạm Ngọc P5, nhà thuốc Huy Bách của Nguyễn Thị P6, nhà thuốc Kim Yến của Trần Thị Kim Y.
Ngoài ra, P còn bán cho nhà thuốc Hồng Nhung của Huỳnh Thị Hồng N tại thị xã Đ nhưng không xuất hóa đơn.
Theo 117 đơn hàng do P đặt mua, Công ty X2 - Chi nhánh T24 đã xuất 117 hóa đơn giá trị gia tăng, số lượng thuốc theo hóa đơn có tổng số tiền là 423.364.162 đồng (trong đó có 32 hóa đơn giá trị từ 2.000.000 đồng trở lên) sau đó công ty cho xe vận chuyển thuốc đến Phú Yên giao cho P.
Đến ngày 05/12/2022, P đã bán số lượng thuốc với tổng số tiền 332.105.212 đồng, số thuốc chưa bán được đã được Công ty thu hồi có tổng giá trị là 91.258.950 đồng, 04 nhà thuốc mua chưa thanh toán cho P với tổng số tiền là 18.546.800 đồng (nhà thuốc đã thanh toán cho Công ty). Sau khi thu được số tiền 332.105.212 đồng, P chỉ nộp về Công ty số tiền 6.847.895 đồng, chiếm đoạt số tiền 306.710.517 đồng tiêu xài cá nhân, tự ý nghỉ việc, bỏ trốn khỏi địa phương. Ngày 06/11/2023, P đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Đ đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội.
Về dân sự: Công ty X2 yêu cầu bồi thường số tiền 306.710.517 đồng.
Vật chứng vụ án: tài sản đang tạm giữ 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy Note 9 màu đen, gắn thẻ sim số 0372.077.164 và phong tỏa số tiền 5.999.773 đồng trong tài khoản số 1029780000 tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần N3 - Chi nhánh P10 đứng tên bị cáo.
Cáo trạng số 17/CT-VKSĐH ngày 27/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa truy tố Nguyễn Văn P về tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại các điểm c, d khoản 2 Điều 353 Bộ luật hình sự.
Trước ngày mở phiên toà: bị cáo đã tự nguyện tác động gia đình khắc phục hậu quả số tiền 20.000.000 đồng tại Biên lai số 0001508 ngày 15/4/2024 của Chi cục THADS thị xã Đ, tỉnh Phú Yên.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hoà đã truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Số tiền tạm nộp 20.000.000 đồng và 5.999.773 đồng trong tài khoản dùng bồi thường cho bị hại.
- Bị hại Công ty X2 do ông Lê Quang Đ là người đại diện được uỷ quyền yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 306.710.517 đồng; về hình phạt, đề nghị HĐXX xem xét quyết định theo quy định của pháp luật.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa sau khi phân tích tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Tham ô tài sản”. Áp dụng điểm c, d khoản 2 Điều 353; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P từ 09 – 10 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 07/11/2023. Hình phạt bổ sung: không áp dụng.
Về dân sự: buộc bị cáo Nguyễn Văn P phải bồi thường cho bị hại Công ty cổ phần X2 số tiền 306.710.517 đồng. Bị cáo đã tác động gia đình nộp bồi thường số tiền 20.000.000 đồng tại Chi cục THADS thị xã Đ để khắc phục hậu quả nên còn phải tiếp tục bồi thường cho bị hại số tiền 286.710.517 đồng.
Về vật chứng, tài sản tạm giữ: căn cứ khoản 3 Điều 106, Điều 129 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tiếp tục tạm giữ 01 điện thoại di động hiệu S2 Note 9 màu đen, gắn thẻ sim số 0372.077.164 thuộc sở hữu của bị cáo và tiếp tục phong tỏa số tiền 5.999.773 đồng trong tài khoản số 1029780000 tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần N3 - Chi nhánh P10 đứng tên bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Đối với các chủ nhà thuốc không biết Nguyễn Văn P thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Đ không xem xét trách nhiệm.
* Bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố và không có ý kiến tranh luận.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo rất ăn năn, nhận thức được hành vi sai trái của bị cáo và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại; do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về thủ tục tố tụng: tại phiên tòa vắng mặt tất cả những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và một số người làm chứng. Xét thấy, lời khai đã thể hiện rõ trong quá trình điều tra vụ án tại cơ quan điều tra, sự vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 292 và 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[3] Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai người đại diện của bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Văn P là nhân viên Công ty X2 theo Hợp đồng lao động số DMC 2022/2768.2HD ngày 04/7/2022, loại hợp đồng xác định thời hạn, công việc phải làm là nhân viên khối kinh doanh và các công việc khác theo sự phân công của lãnh đạo Công ty. Từ ngày 25/8/2022 đến ngày 05/12/2022, Nguyễn Văn P đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn được Công ty X2 giao, nhiều lần chiếm đoạt tài sản mà P có trách nhiệm quản lý với tổng số tiền 306.710.517 đồng của Công ty X2. Hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tiền do mình trực tiếp quản lý đã xâm hại trái pháp luật đến tài sản của Công ty X2, vi phạm nghiêm trọng pháp luật hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần, số tiền chiếm đoạt tổng cộng 306.710.517 đồng, đủ yếu tố cấu thành tội “Tham ô tài sản” được quy định tại các điểm c, d khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 17/CT-VKSĐH ngày 27/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tình tiết giảm nhẹ: sau khi phạm tội đã đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã khắc phục hậu quả số tiền 20.000.000 đồng, đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần áp dụng cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
[5] Về hình phạt: bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ, do đó cần xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, xét bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên cần giảm một phần hình phạt để bị cáo yên tâm cải tạo thành người có ích cho xã hội. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc áp dụng điều luật, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp nên HĐXX chấp nhận. Hình phạt bổ sung: bị cáo làm nghề lao động tự do, không có chuyên ngành nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung.
[6] Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo bồi thường cho Công ty X2 số tiền 306.710.517 đồng, được khấu trừ số tiền 20.000.000 đồng do bà Nguyễn Thị T nộp thay cho bị cáo, còn tiếp tục phải tiếp tục bồi thường 286.710.517 đồng.
Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã trực tiếp mua thuốc và đã thanh toán đủ tiền mặt cho bị cáo P, không biết bị cáo chiếm đoạt tiền của Công ty X2 nên Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm là phù hợp.
[7] Về vật chứng vụ án: tiếp tục tạm giữ 01 điện thoại di động hiệu S2 Note 9 màu đen, tiếp tục phong tỏa số tiền 5.999.773 đồng của bị cáo để đảm bảo thi hành án. Công ty X2 được nhận số tiền 20.000.000 đồng do bị cáo tạm nộp để khắc phục hậu quả.
[8] Về án phí sơ thẩm: bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Tham ô tài sản”.
Áp dụng các điểm c, d khoản 2 Điều 353; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Áp dụng Điều 584, 585, 586 và 589 Bộ luật dân sự.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106, 129 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 09 (chín) năm tù, thời gian tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 07/11/2023.
Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo Nguyễn Văn P phải tiếp tục bồi thường cho Công ty cổ phần X2 286.710.517 đồng (hai trăm tám mươi sáu triệu bảy trăm mười nghìn năm trăm mười bảy đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành xong khoản tiền phải trả, thì còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Về vật chứng vụ án: tiếp tục tạm giữ 01 điện thoại di động hiệu S2 Note 9 màu đen, gắn thẻ sim số 0372.077.164 (vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/3/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Đ và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đông Hòa) và phong tỏa số tiền 5.999.773 đồng trong tài khoản số 1029780000 tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần N3 - Chi nhánh P10 là tài sản của bị cáo Nguyễn Văn P để đảm bảo thi hành án. Công ty cổ phần X2 được nhận số tiền 20.000.000 đồng tại Biên lai số 0001508 ngày 15/4/2024 của Chi cục Thi hành án thị xã Đông Hoà, tỉnh Phú Yên.
Về án phí sơ thẩm: bị cáo Nguyễn Văn P phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự và 14.335.525 đồng (mười bốn triệu ba trăm ba mươi lăm nghìn năm trăm hai mươi lăm đồng) án phí dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Thu Hằng |
Bản án số 26/2024/HS-ST ngày 11/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG HÒA, TỈNH PHÚ YÊN về tham ô tài sản
- Số bản án: 26/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tham ô tài sản
