Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN S

TỈNH QUẢNG NGÃI

Bản án số: 02/2024/DS - ST

Ngày: 17 - 7 - 2024

V/v: “ Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S, TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Mến .

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Đinh Thị Giang;
  2. Bà Nguyễn Thị Nguyệt.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Duy Bình – Thư ký Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 68/2023/TLST-DS ngày 01/12/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2024/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 5 năm 2024, quyết định hoãn phiên tòa số 02/2024/QĐST- DS ngày 06/6/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 03/2024/QĐST-DS ngày 25/6/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng N.

    Địa chỉ: Số B L, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V, chức vụ: Tổng Giám đốc Ngân hàng N.

    Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Văn C - Giám đốc Ngân hàng N - Chi nhánh huyện S. (Theo Quyết định về việc ủy quyền thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng và thi hành án số 2665/QĐ-NHNo ngày 01/12/2022 của ông Phạm Toàn V).

    Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Nguyễn Thanh T - Trưởng phòng Khách hàng Ngân hàng N - Chi nhánh huyện S. (Theo Giấy ủy quyền số 151/UQ-NHNo.SH ngày 17/7/2024 của ông Nguyễn Văn C). Địa chỉ: Tổ dân phố H, thị trấn D, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi. Có mặt.

  2. Bị đơn: Ông Huỳnh Tấn P, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1967.

    Địa chỉ: Thôn C, xã S, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi. Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 23/11/2023, trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh T trình bày:

Ngày 07 tháng 10 năm 2019 vợ chồng ông Huỳnh Tấn P và bà Nguyễn Thị L có vay tại Ngân hàng N – Chi nhánh huyện S theo hợp đồng tín dụng số: 4050LAV201902482, số tiền vay là 300.000.000đồng, bằng hình thức vay theo lương, thời hạn vay 60 tháng, đến hạn trả gốc ngày 07/10/2024, định kỳ trả lãi 12 tháng/lần, lãi suất 11,75%/năm, mục đích vay tiền sửa nhà. Quá trình thực hiện hợp đồng, vợ chồng ông P, bà L thực hiện trả gốc và lãi theo đúng như hợp đồng. Đến tháng 11 năm 2022 vợ chồng ông P, bà L không thực hiện việc trả gốc và lãi cho Ngân hàng như hợp đồng hai bên đã ký kết. Ngân hàng đã nhiều lần xuống nhà làm việc để yêu cầu bà L và ông P trả nợ theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng nhưng bà L và ông P không thực hiện đúng theo cam kết trả nợ.

Tính đến ngày 17/7/2024 bà L, ông P còn nợ Ngân hàng theo hợp đồng tín dụng số 4505LAV201902482 tổng số tiền là 169.759.814đồng, trong đó nợ gốc là 140.944.406đồng, lãi trong hạn là 28.815.408đồng.

Tại phiên tòa, Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị L và ông Huỳnh Tấn P trả nợ cho Ngân hàng với tổng số tiền tính đến ngày 17/7/2024 là 169.759.814đồng; trong đó: nợ gốc là 140.944.406đồng, nợ lãi trong hạn là 28.815.408đồng và tiếp tục trả lãi theo lãi suất quy định tại hợp đồng tín dụng số 4505LAV201902482 ngày 07/10/2019 cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng.

Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị L và ông Huỳnh Tấn P:

Tại đơn xin trình bày ngày 21/01/2024 và ngày 20/3/2024 bà Nguyễn Thị L trình bày: Năm 1998 bà L vào công tác tại trường M, đến năm 2004 bà có vay Ngân hàng 30.000.000 đồng trả lương hàng tháng, còn ít bà L vay lại trả lần và bà vay rất nhiều lần để nuôi con. Đến năm 2019, lương tăng bà L vay số tiền 300.000.000 đồng bằng hình thức trả lương hàng tháng, đến năm 2022 có quyết định nghỉ hưu, số tiền gốc còn thiếu Ngân hàng 150.000.000 đồng, trong giai đoạn này chồng bà bệnh 3 năm liền bà phải lo chữa bệnh cho chồng nên gặp khó khăn, do đó chưa trả được cho Ngân hàng. Bà L có đơn trình bày gửi Ngân hàng hẹn trả tiền gốc và lãi vào ngày 30 tháng 12 năm 2027.

Tại các bản tự khai ngày 12/12/2023 và ngày 28/01/2024 ông Huỳnh Tấn P trình bày: Năm 2019 ông P thừa nhận có ký giấy ủy quyền cho vợ bà Nguyễn Thị L để vay vốn theo lương, ông không ký vào hợp đồng vay, khoản tiền trên bà L tự sử dụng, ông không biết vào mục đích gì, ông P không đồng ý trả nợ cho Ngân hàng vì bà L vay sử dụng cá nhân, ngoài ra không có ý kiến gì khác.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự; việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử tại phiên toà: Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70 và Điều 71, bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Qua xác minh tại địa phương, xác định bị đơn bà Nguyễn Thị L đã vắng mặt tại địa phương nơi cư trú từ cuối năm 2022 đến nay không có tin tức gì, ông Huỳnh Tấn P có mặt tại địa phương nhưng từ chối nhận văn bản tố tụng. Trong quá trình thụ lý, giải quyết, Toà án đã tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ, đầy đủ được quy định tại Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng bà L và ông P vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa. Căn cứ tại điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án: Sau khi xem xét tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nhận thấy việc Ngân hàng N khởi kiện yêu cầu vợ chồng bà Nguyễn Thị L và ông Huỳnh Tấn P có nghĩa vụ trả số tiền tính đến ngày 17/7/2024 là 169.759.814đồng là có căn cứ.

Do đó, căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 280, Điều 288, Điều 351, Điều 463; Điều 466; Điều 468 và Điều 470 của Bộ luật Dân sự; Điều 27, Điều 28, Điều 33 và Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình; các Điều 91 và Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của Ngân hàng N và buộc bà Nguyễn Thị L, ông Huỳnh Tấn P có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền 169.759.814đồng, trong đó: tiền gốc 140.944.406đồng, tiền lãi tính đến ngày 17/7/2024 là 28.815.408đồng. Bà L và ông P phải tiếp tục trả lãi phát sinh sau ngày 17/7/2024 cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng theo hợp đồng tín dụng số 4505LAV201902482 ngày 07/10/2019.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành niêm yết các thủ tục tố tụng theo đúng quy định pháp luật cho bị đơn ông Huỳnh Tấn P và bà Nguyễn Thị L nhưng bà L, ông P không đến Tòa án tham gia phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy việc Tòa án tiến hành thủ tục niêm yết các văn bản tố tụng là phù hợp, đảm bảo theo đúng quy định tại Điều 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, bị đơn ông Huỳnh Tấn P và bà Nguyễn Thị L tiếp tục vắng mặt không rõ lý do mặt dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2]. Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn là cá nhân ký hợp đồng vay vốn với mục đích sửa nhà, vì vậy đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng, bị đơn có nơi cư trú tại huyện S, tỉnh Quảng Ngãi. Do đó, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3.]. Xét yêu cầu trả nợ của Ngân hàng N, Hội đồng xét xử nhận thấy: Theo các tài liệu, chứng cứ do Ngân hàng cung cấp có tại hồ sơ thì vợ chồng ông Huỳnh Tấn P và bà Nguyễn Thị L có vay tại Ngân hàng N – Chi nhánh huyện S theo hợp đồng tín dụng số: 4505LAV201902482, số tiền vay là 300.000.000đồng, bằng hình thức vay theo lương, thời hạn vay 60 tháng; Hạn trả gốc 07/10/2024, định kỳ trả lãi 12 tháng/lần, lãi suất 11,75%/năm. Mục đích vay tiền sửa nhà. Thời gian đầu vợ chồng ông P, bà L trả nợ đúng hạn theo như hợp đồng (Có bản kê lịch sử giao dịch tiền vay thể hiện tại bút lục 77, 78). Tuy nhiên, từ tháng 11 năm 2022 đến nay bị đơn không trả nợ gốc và lãi theo đúng thỏa thuận như hợp đồng đã ký kết. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm (17/7/2024) bà L, ông P còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 169.759.814đồng; trong đó nợ gốc là 140.944.406đồng, lãi trong hạn là 28.815.408đồng. Do đó, Ngân hàng yêu cầu vợ chồng bà Nguyễn Thị L và ông Huỳnh Tấn P phải thanh toán số tiền nợ trên (tính đến ngày 17/7/2024) và tiền lãi phát sinh trên số dư nợ gốc tính cho đến khi trả nợ xong theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số 4505LAV201902482 ngày 07/10/2019 là có căn cứ và phù hợp các Điều 91, 95 của Luật các Tổ chức tín dụng.

[4]. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Huỳnh Tấn P cho rằng khoản vay này vợ của ông là bà Nguyễn Thị L vay theo lương sử dụng vào mục đích cá nhân, ông không chịu trách nhiệm cùng bà L trả khoản vay này cho Ngân hàng. Hội đồng xét xử nhận thấy: vào ngày 04 tháng 10 năm 2019, ông Huỳnh Tấn P làm giấy ủy quyền cho bà Nguyễn Thị L đứng ra ký kết với Ngân hàng vay vốn được Ủy ban nhân dân xã S xác nhận (bút lục 94), mặc dù bà L vay theo lương (tiền lương là tài sản chung của vợ chồng). Theo bà L trình bày khoản tiền vay của Ngân hàng T1 là dùng vào việc chữa bệnh cho ông P và lo các con ăn học, một phần bà L trả nợ cho khoản vay trước tại Ngân hàng; mặc khác theo lời trình bày của bà Huỳnh Thị Y là chị ruột ông P xác nhận giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2020 ông P hay ốm đau thường xuyên nằm bệnh viện, bà L là người trực tiếp nuôi, chăm sóc (bút lục 86), đều này chứng tỏ bà L sử dụng nguồn vốn vay là nhằm phục vụ cho gia đình. Do đó, căn cứ các Điều 27, Điều 28, Điều 33 và Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình; các Điều 280, Điều 288, Điều 351, Điều 463, Điều 466, Điều 468 và Điều 470 của Bộ luật Dân sự buộc ông Huỳnh Tấn P phải có nghĩa vụ cùng bà Nguyễn Thị L trả khoản nợ vay gốc và lãi cho Ngân hàng là có căn cứ.

[5]. Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[6]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.

[7]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 280, Điều 288, Điều 351, Điều 463, Điều 466, Điều 468 và Điều 470 của Bộ luật Dân sự; các Điều 27, Điều 28, Điều 33 và Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình; các Điều 91 và Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N - Chi nhánh huyện S, Quảng Ngãi.

    Buộc vợ chồng bà Nguyễn Thị L và ông Huỳnh Tấn P phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng N - Chi nhánh huyện S, Quảng Ngãi tổng số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 17/7/2024) là 169.759.814đồng (Một trăm sáu mươi chín triệu bảy trăm năm mươi chín nghìn tám trăm mười bốn đồng); trong đó: tiền gốc 140.944.406đồng, tiền lãi trong hạn là 28.815.408đồng.

  2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 17/7/2024) cho đến khi thi hành án xong khoản nợ, bà Nguyễn Thị L và ông Huỳnh Tấn P còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số 4505LAV201902482 ngày 07/10/2019 đã ký Ngân hàng N - Chi nhánh huyện S, Quảng Ngãi.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Vợ chồng bà Nguyễn Thị L và ông Huỳnh Tấn P phải nộp số tiền 8.487.990đồng. H lại trả cho Ngân hàng N - Chi nhánh huyện S số tiền 3.974.000đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000619 ngày 29/11/2023 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện S.
  4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
  5. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự,
  • - VKSND huyện S,
  • - TAND tỉnh Quảng Ngãi,
  • - Chi cục THADS huyện S,
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Trần Mến

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TÒA PHIÊN TÒA

N1

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2024/DS - ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S, TỈNH QUẢNG NGÃI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 02/2024/DS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S, TỈNH QUẢNG NGÃI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Buộc vợ chồng bà Nguyễn Thị L và ông Huỳnh Tấn P phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện S, Quảng Ngãi tổng số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 17/7/2024) là 169.759.814đồng (Một trăm sáu mươi chín triệu bảy trăm năm mươi chín nghìn tám trăm mười bốn đồng); trong đó: tiền gốc 140.944.406đồng, tiền lãi trong hạn là 28.815.408đồng.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger