Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ MỚI

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2024/KDTM-ST

Ngày: 17/4/2024

V/v tranh chấp “HĐ tín dụng,

HĐ bảo lãnh"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thanh Tuyền.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Lê Văn Phụng, bà Phạm Xuân Đào.

- Thư ký phiên tòa: ông Quách Thuận An, Thư ký Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: bà Đoàn Thụy Thùy Trang, Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 09/2023/TLST-KDTM ngày 26 tháng 12 năm 2023 về việc tranh chấp “Hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo lãnh” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 146/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP X nay là Ngân hàng TMCP X (P).

    Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn: bà Đinh Thị Huyền T - Tổng Giám đốc.

    Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:

    Ông Phạm Văn T1 Em - CV xử lý và thu hồi nợ Ngân hàng TMCP X, địa chỉ: số A đường T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (theo giấy ủy quyền ngày 26/02/2024 và ngày 16/4/2024) (có mặt).

    Và bà Nguyễn Thị T2 - Cán bộ Phòng xử lý và thu hồi nợ Ngân hàng TMCP X, địa chỉ: Tầng L, số D N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (theo giấy ủy quyền ngày 16/4/2024) (có mặt).

  2. Bị đơn: bà Lê Thị T3 - Chủ Doanh nghiệp tư nhân T6, địa chỉ: ấp T, xã M, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    Ngân hàng X, địa chỉ: số B C, phường C, quận Đ, Thành phố Hà Nội.

2

Người đại diện theo pháp luật của Ngân hàng X: ông Đào Quang T4 - Chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng X:

Ông Trần Minh T5 - Trưởng phòng Tổng hợp Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng X (theo giấy ủy quyền ngày 12/01/2024) (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 14/8/2023, bản tự khai ngày 20/11/2023, ngày 20/02/2024, đại diện nguyên đơn ông Phạm Văn T1 Em trình bày:

Lê Thị T3 là chủ Doanh nghiệp tư nhân T6 vay vốn tại Ngân hàng P1 - chi nhánh A theo hợp đồng tín dụng ngắn hạn số 0450/AG/HĐTD/NH-PN/PGB ngày 14/4/2010 và phụ lục hợp đồng tín dụng số 001/PK-AG ngày 15/4/2010 với số tiền vay 9.000.000.000 đồng, thời hạn vay: 6 tháng kể từ ngày 14/4/2010 đến ngày 14/10/2010, mục đích vay: bổ sung vốn lưu động nuôi cá tra xuất khẩu, lãi suất cho vay trong hạn: 1,35%/tháng (tương đương 16,2%/năm), lãi suất quá hạn: 150% lãi suất cho vay trong hạn. Thực hiện hợp đồng trên, Ngân hàng P1 - chi nhánh A đã giải ngân cho khách hàng 04 lần với tổng số tiền là 9.000.000.000 đồng cụ thể như sau:

  • - Lần 1: giải ngân số tiền 2.000.000.000 đồng theo giấy nhận nợ số 01/AG ngày 15/4/2010.

    Tính đến ngày 17/4/2024 đã trả gốc 2.000.000.000 đồng và lãi trong hạn 164.620.126 đồng (thu từ bán cá của Doanh nghiệp tư nhân T6). Khoản vay này còn nợ lại số tiền lãi chậm trả là 134.820.585 đồng.

  • - Lần 2: giải ngân số tiền 3.000.000.000 đồng theo giấy nhận nợ số 02/AG ngày 20/4/2010.

    Tính đến ngày 17/4/2024 đã trả gốc 3.000.000.000 đồng và lãi trong hạn 240.180.188 đồng (thu từ số tiền 4.184.008.791 đồng Ngân hàng X chuyển). Khoản vay này còn nợ lại số tiền lãi chậm trả là 781.956.923 đồng.

  • - Lần 3: giải ngân số tiền 3.000.000.000 đồng theo giấy nhận nợ số 03/AG ngày 28/4/2010.

    Tính đến ngày 17/4/2024 đã trả gốc 1.931.058.791 đồng và lãi trong hạn 229.380.188 đồng (thu từ số tiền 4.184.008.791 đồng Ngân hàng X chuyển). Khoản vay này còn nợ gốc 1.068.941.209 đồng và lãi 4.202.946.517 đồng.

  • - Lần 4: giải ngân số tiền 1.000.000.000 đồng theo giấy nhận nợ số 04/AG ngày 10/5/2010.

    Tính đến ngày 20/02/2024 đã trả lãi 71.060.063 đồng (thu từ số tiền 4.184.008.791 đồng Ngân hàng X chuyển). Khoản vay này còn nợ gốc 1.000.000.000 đồng và lãi 3.331.847.858 đồng.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay nêu trên của khách hàng tại Ngân hàng TMCP X nay là Ngân hàng TMCP X (P) là chứng thư bảo lãnh số

3

08/NHPT.AGI-CTBL ngày 15/4/2010 của Ngân hàng X - chi nhánh A phát hành. Theo đó, Ngân hàng X - chi nhánh A bảo lãnh cho Doanh nghiệp tư nhân T6 để vay vốn tại Ngân hàng P1 - chi nhánh A thực hiện phương án sản xuất kinh doanh theo hợp đồng tín dụng số 0450/AG/HĐTD/NH-PN/PGB ngày 14/4/2010. Tổng số tiền bảo lãnh vốn vay là 9.000.000.000 đồng và số tiền lãi vay phát sinh trên nợ gốc được bảo lãnh theo hợp đồng tín dụng với lãi suất không vượt quá 150% lãi suất cơ bản của Ngân hàng N công bố từng thời kỳ. Ngân hàng P1 - chi nhánh A nhận thế chấp các tài sản trên theo các hợp đồng:

  • - Chứng thư bảo lãnh số 08/NHPT.AGI.CTBL ngày 15/4/2010.
  • - Thông báo chấp thuận bảo lãnh vay vốn số 07.2010/NHPT-AGI-BL ngày 15/3/2010.
  • - Hợp đồng bảo lãnh vay vốn số 08/2010/NHPT-AGI-BLPA ngày 15/4/2010 giữa bên bảo lãnh là Ngân hàng X - chi nhánh A và bên được bảo lãnh là Doanh nghiệp tư nhân T6.

Chi nhánh Ngân hàng X - An Giang cho rằng Ngân hàng TMCP X - chi nhánh A giải ngân không hợp lệ đối với số tiền 3.000.000.000 đồng trong khoản vay 9.000.000.000 đồng, số tiền 3.000.000.000 đồng Ngân hàng TMCP X - chi nhánh A không chấp nhận là trong các khoản vay:

  • - Lần 1: giải ngân số tiền 2.000.000.000 đồng theo giấy nhận nợ số 01/AG ngày 15/4/2010.

    Theo Chi nhánh Ngân hàng X - An Giang, chứng từ giải ngân không hợp lệ là khoản 1.750.000.000 đồng (không có chứng từ giải ngân tiền mặt) và khoản 501.200.000 đồng (hóa đơn nhận hàng 10/4/2010 là ký trước ngày hợp đồng mua bán 15/4/2010 giữa Doanh nghiệp tư nhân T6 và Cửa hàng chuyên bán thức ăn và thủy sản S). Thực tế là có chứng từ giải ngân bằng tiền mặt của khoản vay 1.750.000.000 đồng, đối với khoản 501.200.000 đồng thì Ngân hàng TMCP X - chi nhánh AChi nhánh Ngân hàng X - An Giang có biên bản kiểm tra sử dụng vốn đúng mục đích.

  • - Lần 4: giải ngân số tiền 1.000.000.000 đồng theo giấy nhận nợ số 04/AG ngày 10/5/2010.

    Theo Chi nhánh Ngân hàng X - An Giang, chứng từ giải ngân khoản vay này không hợp lệ. Theo quy định tại Điều 10 của Nghị định 89/2002/NĐ-CP ngày 07/11/2002 của Chính phủ quy định về việc in phát hành sử dụng và quản lý hóa đơn, theo điểm 2.4 mục 4 phần c của Thông tư số 130/2008 ngày 26/12/2008 của Bộ T7, đối với doanh nghiệp K thì Doanh nghiệp tư nhân T6 chỉ lập mua bán hóa đơn theo mẫu số 01/DN ban hành kèm theo Thông tư số 130/2008 ngày 26/12/2008 của Bộ T7 ban hành nên xem như Doanh nghiệp tư nhân T6 lập hóa đơn theo đúng hướng dẫn của Bộ T7, Ngân hàng TMCP X - chi nhánh AChi nhánh Ngân hàng X cũng đến doanh nghiệp kiểm tra việc sử dụng vốn của khách hàng và qua việc kiểm tra việc sử dụng vốn của khách hàng

4

đúng mục đích do đó việc giải ngân cho khách hàng là đúng theo quy định và theo hướng dẫn của Bộ T7 về sử dụng hóa đơn chứng từ.

Tại biên bản làm việc ngày 02/11/2011 Chi nhánh Ngân hàng X đề nghị P1 Chi nhánh A rà soát lại toàn bộ chứng từ giải ngân đối với phương án sản xuất kinh doanh nuôi thủy sản của T6 để có căn cứ xác định khoản giải ngân hợp lệ, sau đó P1 Chi nhánh A đã có công văn số 126/CV.PGB ngày 19/01/2011 về việc phúc đáp một số nội dung liên quan đến văn bản số 199/CV.PGB của Ngân hàng X chi nhánh A đối với T6 và công văn số 325/CV.PGB ngày 10/11/2011 về việc rà soát chứng từ giải ngân đối với T6. Phía Chi nhánh Ngân hàng X không có văn bản phản hồi đối với 02 văn bản trên của P1 Chi nhánh A. Còn việc Chi nhánh Ngân hàng X bảo lãnh số tiền 4.184.008.791 đồng là bảo lãnh trước những khoản chứng từ hợp lệ theo văn bản số 01/NHPT.AGI.TDI ngày 05/01/2012 về việc bổ sung hồ sơ thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh phương án sản xuất kinh doanh của T6 của Chi nhánh Ngân hàng X.

Đối với việc Ngân hàng X yêu cầu áp dụng thời hiệu thì vào tháng 4 năm 2023 có văn bản gửi T6 để thông báo nợ, tại buổi hòa giải T6 cũng xác nhận nợ, căn cứ khoản 1 Điều 157 Bộ luật Dân sự thì xác lập lại thời hiệu. Từ khoảng thời gian từ năm 2012 đến tháng 4 năm 2023 thì Ngân hàng X không có văn bản phản hồi đối với công văn số 126 và 325, khoảng thời gian này P1 Chi nhánh A không có thông báo nợ đối với T6 mà đến tháng 4 năm 2023 mới có thông báo nợ cho T6.

Nay Ngân hàng P1 yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề như sau:

  • - Buộc bà Lê Thị T3 - Chủ Doanh nghiệp tư nhân T6 thực hiện nghĩa vụ thanh toán toàn bộ số nợ của hợp đồng tín dụng ngắn hạn số 0450.AG/HĐTD/NH-PN/PGB ngày 14/4/2010 và phụ lục hợp đồng tín dụng số 001/PK-AG ngày 15/4/2010, các giấy nhận nợ kèm theo cho Ngân hàng, tạm tính đến ngày 17/4/2024, khách hàng còn nợ tổng số tiền là 10.507.932.373 đồng trong đó nợ gốc là 2.068.941.209 đồng và nợ lãi 8.438.991.164 đồng (tổng số nợ này chưa kể số lãi phát sinh thêm sau ngày 17/4/2024 cho đến ngày khoản vay được thanh toán toàn bộ). Thời hạn thanh toán ngay sau khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Lãi sẽ được tiếp tục tính từ ngày 18/4/2024 cho đến khi khách hàng thanh toán toàn bộ khoản nợ tại P theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng và giấy nhận nợ kèm theo.
  • - Ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, nếu bà Lê Thị T3 - Chủ Doanh nghiệp tư nhân T6 không thanh toán đủ số nợ nêu trên cho P thì đề nghị Tòa án tuyên buộc Ngân hàng X - chi nhánh A thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh vay vốn là thanh toán toàn bộ khoản nợ thay cho bà Lê Thị T3 - Chủ Doanh nghiệp tư nhân T6 theo chứng thư bảo lãnh số 08/NHPT.AGI.CTBL ngày 15/4/2010.

Bị đơn bà Lê Thị T3 - Chủ Doanh nghiệp tư nhân T6 trình bày:

Vào ngày 14/4/2010 bà có ký hợp đồng tín dụng đối với Ngân hàng TMCP X (P) nay là Ngân hàng TMCP X với số tiền vay 9.000.000.000 đồng,

5

thời hạn vay: 6 tháng kể từ ngày 14/4/2010 đến ngày 14/10/2010. Khi ký hợp đồng tín dụng thì bà không có thế chấp tài sản mà Ngân hàng X ký hợp đồng bảo lãnh đối với Ngân hàng TMCP X (P) để bà vay số tiền 9.000.000.000 đồng. Sau khi vay do làm ăn thua lỗ, Ngân hàng TMCP X (P) nay là Ngân hàng TMCP X đã bán cá thu hồi nợ của bà với số tiền 2.986.000.000 đồng trong đó vốn gốc 2.747.050.000 đồng, lãi 238.950.000 đồng. Ngoài ra bà không có trả cho Ngân hàng TMCP X (P) nay là Ngân hàng TMCP X khoản tiền nào cả. Sau đó Ngân hàng X có thực hiện bảo lãnh và trả cho Ngân hàng TMCP X (P) nay là Ngân hàng TMCP X số tiền 4.184.008.791 đồng. Bà xác định còn nợ gốc Ngân hàng TMCP X (P) nay là Ngân hàng TMCP X số tiền 2.068.941.209 đồng.

Đối với yêu cầu của Ngân hàng TMCP X (P) nay là Ngân hàng TMCP X yêu cầu bà trả số tiền 10.428.329.860 đồng trong đó nợ gốc là 2.068.941.209 đồng và nợ lãi 8.359.388.651 đồng (lãi tính đến ngày 20/02/2024) thì hiện nay bà không có khả năng trả nợ. Tài sản hiện nay của bà không còn do đã thi hành án hết nên không còn khả năng trả nợ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông Trần Minh T5 là người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng X trình bày:

Căn cứ Quy chế bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn của ngân hàng X kèm theo Quyết định số 14/2009/QĐ-Ttg ngày 21/01/2009 của Thủ tướng Chính Phủ; Quyết định số 60/2009/QĐ-Ttg ngày 17/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 14/2009/QĐ-Ttg ngày 21/01/2009 của Thủ tướng Chính Phủ ban hành Quy chế Bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn của ngân hàng X.

Căn cứ Thông tư số 12/2009/TT-NHNN ngày 28/5/2009 của Ngân hàng N về việc hướng dẫn một số nội dung cho vay có bảo lãnh của Ngân hàng X theo Quy chế bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn của ngân hàng X ban hành theo Quyết định số 14/2009/QĐ-Ttg và Quyết định số 60/2009/QĐ-Ttg của Thủ tướng Chính Phủ

Căn cứ Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12//2001 của Thống đốc Ngân hàng N về ban hành Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng, Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03/02/2005, Quyết định số 783/2005/QĐ-NHNN ngày 31/5/2005 của Thống đốc Ngân hàng N về sửa đổi bổ sung một số điều của Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN.

Căn cứ phương án sản xuất kinh doanh, nuôi thủy sản do bà Lê Thị T3 - Chủ Doanh nghiệp tư nhân T6 lập gửi đến Chi nhánh Ngân hàng XNgân hàng TMCP X - chi nhánh A.

Căn cứ Thông báo chấp thuận bảo lãnh số 07.2010/NHPT-AGI-BL ngày 15/3/2010 về việc bảo lãnh cho bà Lê Thị T3 - Chủ Doanh nghiệp tư nhân T6

6

vay vốn tại Ngân hàng thương mại để thực hiện phương án sản xuất kinh doanh, nuôi thủy sản.

Căn cứ Hợp đồng tín dụng ngắn hạn số 0450.AG/HĐTD/NH-PN/PGB ngày 14/4/2010 giữa Ngân hàng TMCP X - chi nhánh A và bà Lê Thị T3 - Chủ Doanh nghiệp tư nhân T6.

Căn cứ Chứng thư bảo lãnh số 08/NHPT.AGI-CTBL ngày 15/4/2010 về việc bảo lãnh cho bà Lê Thị T3 - Chủ Doanh nghiệp tư nhân T6 vay vốn tại Ngân hàng TMCP X - chi nhánh A để thực hiện phương án sản xuất kinh doanh, nuôi thủy sản.

Căn cứ biên bản làm việc ngày 02/11/2011 giữa Chi nhánh Ngân hàng XNgân hàng TMCP X - chi nhánh A.

Căn cứ Văn bản số 374/CV-PGB ngày 19/01/2012 của Ngân hàng TMCP X - chi nhánh A về việc đề nghị thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay đối với bà Lê Thị T3 - Chủ Doanh nghiệp tư nhân T6.

Căn cứ Văn bản số 29/NHPT.AGI-TDI ngày 15/02/2012 của Chi nhánh Ngân hàng X về việc thông báo Chứng thư bảo lãnh hết hiệu lực và đề nghị Ngân hàng TMCP X - chi nhánh A hoàn trả Chứng thư bảo lãnh số 08/NHPT.AGI-CTBL ngày 15/4/2010 của Doanh nghiệp tư nhân T6.

Căn cứ Văn bản số 77/NHPT.AGI-TDI ngày 16/4/2012 của Chi nhánh Ngân hàng X về việc thông báo (lần 2) Chứng thư bảo lãnh hết hiệu lực và đề nghị Ngân hàng TMCP X - chi nhánh A hoàn trả Chứng thư bảo lãnh số 08/NHPT.AGI-CTBL ngày 15/4/2010 của Doanh nghiệp tư nhân T6.

Căn cứ hồ sơ, chứng từ giải ngân do Ngân hàng TMCP X - chi nhánh A và chứng từ sử dụng vốn vay do bà Lê Thị T3 - Chủ Doanh nghiệp tư nhân T6 cung cấp.

Qua kiểm tra, rà soát và xác minh các hồ sơ, chứng từ giải ngân, kiểm tra chứng từ chứng minh mục đích sử dụng vốn vay có bảo lãnh của bà Lê Thị T3 - Chủ Doanh nghiệp tư nhân T6, Chi nhánh Ngân hàng X (nay là Chi nhánh Ngân hàng X - An Giang) đã thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh một phần đối với bà Lê Thị T3 - Chủ Doanh nghiệp tư nhân T6 với tổng số tiền trả nợ thay là 4.184.008.791 đồng và đã từ chối thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với phần nợ còn lại vì Ngân hàng TMCP X - chi nhánh A đã vi phạm Nghị định số 89/2002/NĐ-CP ngày 07/11/2002 của Chính phủ, Thông tư số 120/2002/TT-BTC ngày 30/12/2002 và Thông tư số 99/2003/TT-BTC ngày 23/10/2003 của Bộ T7 quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ. Chứng từ giải ngân của Ngân hàng TMCP X - chi nhánh A không hợp lệ theo quy định, nội dung này đã được Ngân hàng TMCP X - chi nhánh A thừa nhận tại Văn bản số 374/CV-PGB ngày 19/01/2002.

Đối với số nợ gốc là 2.068.941.209 đồng, Chi nhánh Ngân hàng X - An Giang đã từ chối thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh vì Ngân hàng TMCP X - chi nhánh A đã vi phạm Nghị định số 89/2002/NĐ-CP ngày 07/11/2002 của Chính phủ,

7

Thông tư số 120/2002/TT-BTC ngày 30/12/2002 và Thông tư số 99/2003/TT-BTC ngày 23/10/2003 của Bộ T7 quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ. Chứng từ giải ngân của Ngân hàng TMCP X - chi nhánh A không hợp lệ theo quy định, nội dung này đã được Ngân hàng TMCP X - chi nhánh A thừa nhận tại Văn bản số 374/CV-PGB ngày 19/01/2012 và căn cứ khoản 8 Điều 2 của Quyết định 60/2009/QĐ-Ttg ngày 17/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ Quyết định sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định 14/2009/QĐ-Ttg ngày 21/01/2009 ban hành Quy chế bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn tại Ngân hàng X “từ chối thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh khi bên được bảo lãnh sử dụng vốn vay, tài sản hình thành từ vốn vay không đúng mục đích”. Ngày 16/4/2012, chúng tôi gửi đến Ngân hàng TMCP X - chi nhánh A văn bản số 77/NHPT.AGI-TDI về việc thông báo (lần 2) Chứng thư bảo lãnh hết hiệu lực và đề nghị P hoàn trả chứng thư bảo lãnh số 08/NHPT.AGI-CTBL ngày 15/4/2010 của T6. Tuy nhiên từ ngày chúng tôi thông báo (lần 2) Chứng thư bảo lãnh hết hiệu lực đến nay thời gian là hơn 11 năm, chúng tôi không nhận được bất cứ văn bản trả lời của Ngân hàng TMCP X - chi nhánh A về việc này xem như Ngân hàng TMCP X - chi nhánh A chấp nhận Chứng thư bảo lãnh hết hiệu lực.

Đối với số tiền lãi 8.359.388.651 đồng (tổng số nợ này chưa kể số lãi phát sinh thêm sau ngày 20/02/2024 cho đến ngày khoản vay được thanh toán toàn bộ). Từ ngày chúng tôi thông báo (lần 2) Chứng thư bảo lãnh hết hiệu lực đến nay thời gian là hơn 11 năm (từ ngày 16/4/2012 đến ngày 16/01/2024) chúng tôi không nhận bất cứ văn bản trả lời nào của Ngân hàng TMCP X - chi nhánh A. Do đó theo quy định tại Điều 429 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì: “thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm”. Căn cứ nội dung nêu trên, thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo lãnh đã hết. Chi nhánh Ngân hàng X - An Giang đề nghị Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với vụ án nêu trên.

Chi nhánh Ngân hàng X xác định Ngân hàng TMCP X - chi nhánh A giải ngân không hợp lệ đối với số tiền 3.000.000.000 đồng trong khoản vay 9.000.000.000 đồng, cụ thể:

  • - Lần 1: giải ngân số tiền 2.000.000.000 đồng theo giấy nhận nợ số 01/AG ngày 15/4/2010.
  • - Lần 4: giải ngân số tiền 1.000.000.000 đồng theo giấy nhận nợ số 04/AG ngày 10/5/2010.

Tại biên bản làm việc ngày 02/11/2011 Chi nhánh Ngân hàng X đề nghị P1 Chi nhánh A rà soát lại toàn bộ chứng từ giải ngân đối với phương án sản xuất kinh doanh nuôi thủy sản của T6 để có căn cứ xác định khoản giải ngân hợp lệ và P1 Chi nhánh A thống nhất theo ý kiến của Chi nhánh Ngân hàng X và sẽ có văn bản giải trình cụ thể gửi đến Chi nhánh Ngân hàng X. Sau đó P1 Chi nhánh A có văn bản số 325/CV.PGB ngày 10/11/2011 về việc rà soát chứng từ giải ngân đối với T6, đến ngày 19/01/2012 P1 Chi nhánh A có văn bản số

8

374/CV.PGB về việc đề nghị thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay đối với T6, Chi nhánh Ngân hàng X thống nhất và đã thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trả nợ thay số tiền 4.184.008.791 đồng và Chi nhánh Ngân hàng X có công văn số 29/NHPT.AGI.TDI ngày 15/02/2012 về việc thông báo Chứng thư bảo lãnh hết hiệu lực và đề nghị P1 Chi nhánh A hoàn trả Chứng thư bảo lãnh số 08/NHPT.AGI-CTBL ngày 15/4/2010 của T6 sau đó Chi nhánh Ngân hàng X có công văn số 77/NHPT.AGI.TDI ngày 16/4/2012 trên tinh thần nội dung công văn số 29/NHPT.AGI.TDI ngày 15/02/2012 và từ thời điểm này bảo lãnh chấm dứt. Kể từ thời điểm này đến nay Chi nhánh Ngân hàng X không có nhận bất cứ văn bản nào từ P1 Chi nhánh A yêu cầu tiếp tục trả nợ thay cho T6.

Do đó, chúng tôi yêu cầu Tòa án bác yêu cầu của Ngân hàng TMCP X - chi nhánh A buộc chúng tôi trả nợ thay cho bà Lê Thị T3 - Chủ Doanh nghiệp tư nhân T6 với số tiền vốn lãi tạm tính đến ngày 20/02/2024 là 10.428.329.860 đồng và lãi phát sinh thêm sau ngày 20/02/2024 cho đến ngày khoản vay được thanh toán toàn bộ.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện nguyên đơn yêu cầu bà Lê Thị T3 - Chủ Doanh nghiệp tư nhân T6 trả số tiền tạm tính đến ngày 17/4/2024 là 10.507.932.373 đồng trong đó nợ gốc 2.068.941.209 đồng và nợ lãi 8.438.991.164 đồng (tổng số nợ này chưa kể số lãi phát sinh thêm sau ngày 17/4/2024 cho đến ngày khoản vay được thanh toán toàn bộ). Thời hạn thanh toán ngay sau khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Lãi sẽ được tiếp tục tính từ ngày 18/4/2024 cho đến khi khách hàng thanh toán toàn bộ khoản nợ tại P theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng và giấy nhận nợ kèm theo. Ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, nếu bà Lê Thị T3 - Chủ Doanh nghiệp tư nhân T6 không thanh toán đủ số nợ nêu trên cho P thì đề nghị Tòa án tuyên buộc Ngân hàng X - chi nhánh A thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh số tiền 8.320.045.775 đồng tính đến ngày 17/4/2024 cho bà Lê Thị T3 - Chủ Doanh nghiệp tư nhân T6 theo chứng thư bảo lãnh số 08/NHPT.AGI.CTBL ngày 15/4/2010.

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phát biểu:

Ngân hàng TMCP X nay là Ngân hàng TMCP X (P) yêu cầu Ngân hàng X chi nhánh A nay là Chi nhánh Ngân hàng X thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP X nay là Ngân hàng TMCP X với bà Lê Thị T3 - Chủ Doanh nghiệp tư nhân T6. Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, Ngân hàng TMCP X đã giải ngân cho Doanh nghiệp tư nhân T6 nhưng các khoản giải ngân sử dụng không đúng mục đích do đó Ngân hàng X chi nhánh A không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho Doanh nghiệp tư nhân T6. Tại phiên tòa hôm nay, đại diện nguyên đơn xác định có ban hành văn bản số 374/CV.PGB ngày 19/01/2012 để yêu cầu Ngân hàng X chi nhánh A bảo lãnh đối với số tiền 6.000.000.000 đồng là khoản chứng từ hợp lệ, do đó tính đến thời điểm hiện nay Ngân hàng X chi nhánh A đã thực hiện xong nghĩa vụ bảo lãnh đối với số tiền 6.000.000.000 đồng, tại phiên tòa hôm nay đại diện nguyên đơn

9

cũng xác định sau khi Ngân hàng X chi nhánh A thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với số tiền 6.000.000.000 đồng thì Ngân hàng TMCP X cũng không có văn bản yêu cầu tiếp tục thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Đối với khoản vay 4.000.000.000 đồng không có chứng từ hợp lệ thì Ngân hàng X chi nhánh A đã từ chối thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, tính đến nay chứng cứ bảo lãnh đã hết hiệu lực và yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc Ngân hàng X - chi nhánh A thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh số tiền 8.320.045.775 đồng tính đến ngày 17/4/2024 cho bà Lê Thị T3 - Chủ Doanh nghiệp tư nhân T6 theo chứng thư bảo lãnh số 08/NHPT.AGI.CTBL ngày 15/4/2010.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới phát biểu:

  • - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật.
  • - Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71, Điều 73 và Điều 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, Điều 72 và Điều 234 Bộ luật Tố tụng dân sự, tuy nhiên tại phiên tòa hôm nay bị đơn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với người tham gia tố tụng khác, luật sư Trần Tiến V từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 76 và Điều 234 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Về việc giải quyết vụ án:

    Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại các Điều 361, 362, 363, 471, 474, 476 Bộ luật Dân sự năm 2005; các Điều 335, 336, 339, 340, 342, 429, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

    Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP X nay là Ngân hàng TMCP X.

    Buộc bà Lê Thị T3 - Chủ Doanh nghiệp tư nhân T6 trả cho Ngân hàng TMCP X nay là Ngân hàng TMCP X (P) tính đến ngày 17/4/2024 tổng số tiền là 10.507.932.373 đồng (vốn gốc 2.068.941.209 đồng và lãi 8.438.991.164 đồng và tiếp tục thanh toán lãi tiếp theo sau ngày 17/4/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

    Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP X nay là Ngân hàng TMCP X yêu cầu Ngân hàng X chi nhánh A nay là Ngân hàng X khu vực Đồng Tháp - An Giang thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh vay vốn là thanh toán toàn bộ khoản nợ thay cho bà Lê Thị T3 - Chủ Doanh nghiệp tư nhân T6 theo chứng thư bảo lãnh số 08/NHPT.AGI.CTBL ngày 15/4/2010.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật: Theo đơn khởi kiện của Ngân hàng TMCP X nay là Ngân hàng TMCP X (P) yêu cầu bà Lê Thị T3 - Chủ Doanh nghiệp tư nhân T6 thanh toán số nợ theo hợp đồng tín dụng ngày 14/4/2010, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, nếu bà Lê Thị T3 - Chủ Doanh nghiệp tư nhân T6 không thanh toán đủ số nợ nêu trên cho P thì yêu cầu Ngân hàng X - chi nhánh A thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh vay vốn là thanh toán toàn bộ khoản nợ thay cho bà Lê Thị T3 - Chủ Doanh nghiệp tư nhân T6 theo chứng thư bảo lãnh số 08/NHPT.AGI.CTBL ngày 15/4/2010. Căn cứ Điều 30, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 335 Bộ luật Dân sự xác định quan hệ pháp luật hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo lãnh.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: bị đơn bà Lê Thị T3 - Chủ Doanh nghiệp tư nhân T6, địa chỉ tại ấp T, xã M, huyện C, tỉnh An Giang. Căn cứ Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

[1.3] Về sự vắng mặt của bị đơn: bà Lê Thị T3 - Chủ Doanh nghiệp tư nhân T6 đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.4] Về thời hiệu khởi kiện:

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với vụ án, xét thấy tại biên bản ghi lời khai, biên bản hòa giải ngày 05/3/2024 bà Lê Thị T3 - Chủ Doanh nghiệp tư nhân T6 thừa nhận còn nợ Ngân hàng TMCP X nay là Ngân hàng TMCP X số tiền vốn 2.068.941.209 đồng và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng ngày 14/4/2010. Căn cứ khoản 1 Điều 157 Bộ luật Dân sự thì thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự bắt đầu lại trong trường hợp bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện.

[2] Về nội dung:

[2.1] Đối với hợp đồng tín dụng:

Giữa Ngân hàng TMCP X nay là Ngân hàng TMCP X (P) với bà Lê Thị T3 - Chủ Doanh nghiệp tư nhân T6 có ký kiết hợp đồng tín dụng ngắn hạn số 0450.AG/HĐTD/NH-PN/PGB ngày 14/4/2010 và phụ lục hợp đồng tín dụng số 001/PK-AG ngày 15/4/2010. Quá trình thực hiện hợp đồng bà Lê Thị T3 - Chủ Doanh nghiệp tư nhân T6 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng TMCP X nay là Ngân hàng TMCP X (P) khởi kiện yêu cầu bà Lê Thị T3 - Chủ Doanh

11

nghiệp tư nhân T6 trả vốn và lãi tính đến ngày 17/4/2024 tổng số tiền là 10.507.932.373 đồng (vốn gốc 2.068.941.209 đồng và lãi 8.438.991.164 đồng) và tiếp tục thanh toán lãi tiếp theo sau ngày 17/4/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Xét thấy, hợp đồng tín dụng ngày 15/4/2010 bà Lê Thị T3 - Chủ Doanh nghiệp tư nhân T6 vay Ngân hàng TMCP X nay là Ngân hàng TMCP X (P) với số tiền 9.000.000.000 đồng và được giải ngân cụ thể:

  • - Lần 1: giải ngân số tiền 2.000.000.000 đồng theo giấy nhận nợ số 01/AG ngày 15/4/2010.
  • - Lần 2: giải ngân số tiền 3.000.000.000 đồng theo giấy nhận nợ số 02/AG ngày 20/4/2010.
  • - Lần 3: giải ngân số tiền 3.000.000.000 đồng theo giấy nhận nợ số 03/AG ngày 28/4/2010.
  • - Lần 4: giải ngân số tiền 1.000.000.000 đồng theo giấy nhận nợ số 04/AG ngày 10/5/2010.

Theo Ngân hàng TMCP X nay là Ngân hàng TMCP X (P) trình bày, tính đến ngày 17/4/2024 bà Lê Thị T3 - Chủ Doanh nghiệp tư nhân T6 còn nợ tổng số tiền 10.507.932.373 đồng trong đó vốn gốc 2.068.941.209 đồng và lãi 8.438.991.164 đồng. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Lê Thị T3 - Chủ Doanh nghiệp tư nhân T6 thừa nhận còn nợ Ngân hàng TMCP X (P) nay là Ngân hàng TMCP X vốn gốc 2.068.941.209 đồng và lãi như Ngân hàng TMCP X nay là Ngân hàng TMCP X (P) trình bày. Do đó, Ngân hàng TMCP X (P) nay là Ngân hàng TMCP X khởi kiện yêu cầu bà Lê Thị T3 - Chủ Doanh nghiệp tư nhân T6 trả tổng số tiền là 10.507.932.373 đồng trong đó vốn gốc 2.068.941.209 đồng và lãi 8.438.991.164 đồng là có căn cứ để chấp nhận.

[2.2] Đối với hợp đồng bảo lãnh:

Giữa Ngân hàng TMCP X - chi nhánh A và bà Lê Thị T3 - Chủ Doanh nghiệp tư nhân T6 ký kết hợp đồng tín dụng ngắn hạn số 0450.AG/HĐTD/NH-PN/PGB ngày 14/4/2010 có Chứng thư bảo lãnh số 08/NHPT.AGI-CTBL ngày 15/4/2010 của Ngân hàng X - chi nhánh A. Theo Chứng thư bảo lãnh số 08/NHPT.AGI-CTBL ngày 15/4/2010 thể hiện số tiền được bảo lãnh gồm vốn vay 9.000.000.000 đồng và lãi suất phát sinh trên số nợ gốc được bảo lãnh theo hợp đồng tín dụng ngày 14/4/2010. Sau khi bà Lê Thị T3 - Chủ Doanh nghiệp tư nhân T6 vay vốn, do không có khả năng trả nợ, ngày 27/10/2010 Ngân hàng TMCP X tiến hành bàn giao hồ sơ để làm căn cứ xét thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với T6 (BL 80).

Tại biên bản làm việc ngày 02/11/2011 giữa đại diện Ngân hàng TMCP X - chi nhánh A (P1) và đại diện Chi nhánh Ngân hàng X (BL 115) thể hiện nội dung: Chi nhánh Ngân hàng X đề nghị P1 Chi nhánh A rà soát lại toàn bộ chứng

12

từ giải ngân đối với phương án sản xuất kinh doanh nuôi thủy sản của T6 để có căn cứ xác định khoản giải ngân hợp lệ theo đúng Nghị định số 89/2002/NĐ-CP ngày 07/11/2002 của Chính phủ về việc phát hành, sử dụng và quản lý hóa đơn quy định đối với tổ chức, cá nhân khi bán hàng, trao đổi hàng hóa, dịch vụ. Trường hợp nếu xác định chứng từ của khoản giản ngân hợp pháp, hợp lệ, đúng quy định, đủ điều kiện trả nợ thay, Chi nhánh Ngân hàng X sẽ trình Ngân hàng X xem xét việc thực hiện trả nợ thay một phần để cùng chia sẻ rủi ro khách quan của doanh nghiệp đối với phương án sản xuất kinh doanh nuôi thủy sản của T6. Phía P1 Chi nhánh A thống nhất theo ý kiến của Chi nhánh Ngân hàng XP1 Chi nhánh A sẽ thực hiện rà soát toàn bộ chứng từ giải ngân và sẽ có văn bản giải trình cụ thể gửi đến Chi nhánh Ngân hàng X để Chi nhánh Ngân hàng X có cơ sở trình Ngân hàng X sớm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với T6.

Ngày 19/01/2012 Ngân hàng TMCP X - chi nhánh A ban hành văn bản số 374/CV.PGB ngày 19/01/2012 (BL 90) với nội dung: P1V1 cùng phối hợp kiểm tra thực tế vùng nuôi, nhận thấy DNTN Thành Khiêu ngưng hoạt động, đồng thời V1 đã kiểm tra toàn bộ hồ sơ giải ngân của P1 chi nhánh A cho T6 với kết quả: chứng từ hợp lệ là 6.000.000.000 đồng và chứng từ không hợp lệ là 3.000.000.000 đồng. P1 chi nhánh A đề nghị Ngân hàng X - chi nhánh A thanh toán khoản tiền có chứng từ hợp lệ cho P1 chi nhánh A với số nợ gốc là 3.252.950.000 đồng (6.000.000.000 đồng - 2.747.050.000 đồng) và phần nợ lãi phát sinh đến ngày 19/01/2012 là 1.184.560.166 đồng (kèm theo bảng kê gốc phải thu đối với số tiền đề nghị thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh). Tổng cộng số nợ gốc và lãi đề nghị thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh là 4.437.510.166 đồng (theo chứng từ giải ngân lần thứ 02/AG và lần thứ 03/AG).

Xét thấy, tại công văn số 374/CV.PGB ngày 19/01/2012 của Ngân hàng TMCP X - chi nhánh A xác định chứng từ hợp lệ của số tiền 6.000.000.000 đồng là theo chứng từ giải ngân lần thứ 02/AG và lần thứ 03/AG nên đề nghị Ngân hàng X - chi nhánh A thanh toán khoản tiền có chứng từ hợp lệ cho P1 chi nhánh A với số nợ gốc là 3.252.950.000 đồng (6.000.000.000 đồng - 2.747.050.000 đồng). Số tiền 2.747.050.000 đồng là khoản tiền thu được từ tiền bán cá của T6.

Tại Văn bản số 29/NHPT.AGI-TDI ngày 15/02/2012 (BL 87) của Chi nhánh Ngân hàng X với nội dung: ngày 14/02/2012, Chi nhánh Ngân hàng X đã chuyển cho Ngân hàng TMCP X - chi nhánh A để thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh cho T6 theo chứng thư bảo lãnh số 08/NHPT.AGI-CTBL ngày 15/4/2010 với số tiền 4.184.008.791 (trong đó vốn gốc 3.252.950.000 đồng và lãi 931.058.791 đồng) đồng thời thông báo Chứng thư bảo lãnh số 08/NHPT.AGI-CTBL ngày 15/4/2010 hết hiệu lực kể từ ngày 14/02/2012 và đề nghị Ngân hàng TMCP X - chi nhánh A thực hiện việc hoàn trả lại Chứng thư bảo lãnh số 08/NHPT.AGI-CTBL ngày 15/4/2010 cho Chi nhánh Ngân hàng X.

Đến ngày 20/3/2012 Ngân hàng TMCP X - chi nhánh A có văn bản số 443/CV.PGB ngày 20/3/2012 (BL 118) thông báo đến Ngân hàng X - Chi nhánh A thanh toán khoản tiền còn thiếu đối với phần lãi phát sinh là 46.256.000 đồng.

13

Căn cứ khoản 3 Thông tư số 12/2009/TT-NHNN ngày 28/5/2009 của Thống đốc Ngân hàng N: “Ngân hàng thương mại có trách nhiệm thực hiện việc kiểm tra, giám sát chặt chẽ quy trình, sử dụng vốn vay.……”, Ngân hàng TMCP X - chi nhánh A thực hiện giải ngân vốn vay cho T6 chưa đảm bảo các hóa đơn chứng từ theo quy định nên Ngân hàng X - Chi nhánh A từ chối thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh là phù hợp theo khoản 8 Điều 2 của Quyết định 60/2009/QĐ-Ttg ngày 17/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ Quyết định sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định 14/2009/QĐ-Ttg ngày 21/01/2009 ban hành Quy chế bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn tại Ngân hàng XNgân hàng TMCP X - chi nhánh A có công văn số 374/CV.PGB ngày 19/01/2012 xác định chứng từ hợp lệ của số tiền 6.000.000.000 đồng đồng thời đề nghị Ngân hàng X - chi nhánh A thanh toán khoản tiền có chứng từ hợp lệ cho P1 chi nhánh A với số nợ gốc là 3.252.950.000 đồng (6.000.000.000 đồng - 2.747.050.000 đồng) như đã phân tích trên. Tại biên bản hòa giải ngày 05/3/2024 đại diện Ngân hàng TMCP X và đại diện Ngân hàng X đều xác định khoản vay có chứng từ hợp lệ số tiền 6.000.000.000 đồng là của khoản vay theo chứng từ giải ngân lần thứ 02/AG ngày 20/4/2020 và lần thứ 03/AG ngày 28/4/2010.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện nguyên đơn xác định sau khi Ngân hàng TMCP X - chi nhánh A nhận văn bản số 29/NHPT.AGI-TDI ngày 15/02/2012 của Chi nhánh Ngân hàng X, Ngân hàng TMCP X - chi nhánh A chỉ gửi văn bản số 443/CV.PGB ngày 20/3/2012 đến Ngân hàng X - Chi nhánh A thanh toán khoản tiền còn thiếu đối với phần lãi phát sinh là 46.256.000 đồng và cho đến nay cũng không có văn bản nào khác gửi đến Chi nhánh Ngân hàng X. Do vậy, Ngân hàng TMCP X - chi nhánh A nay là Ngân hàng TMCP X yêu cầu Ngân hàng X chi nhánh A nay là Chi nhánh Ngân hàng X thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh vay vốn là thanh toán toàn bộ khoản nợ thay cho bà Lê Thị T3 - Chủ Doanh nghiệp tư nhân T6 theo chứng thư bảo lãnh số 08/NHPT.AGI.CTBL ngày 15/4/2010 là không có căn cứ để chấp nhận bởi ngày 14/02/2012, Chi nhánh Ngân hàng X đã chuyển cho Ngân hàng TMCP X - chi nhánh A thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh cho T6 theo chứng thư bảo lãnh số 08/NHPT.AGI-CTBL ngày 15/4/2010 với số tiền 4.184.008.791 (trong đó vốn gốc 3.252.950.000 đồng và lãi 931.058.791 đồng) theo công văn số 374/CV.PGB ngày 19/01/2012 của Ngân hàng TMCP X - chi nhánh A đề nghị.

[2.3] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

Lê Thị T3 - Chủ Doanh nghiệp tư nhân T6 phải nộp án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Ngân hàng TMCP X nay là Ngân hàng TMCP X (P) được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 147, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Điều 361, Điều 362, Điều 363, Điều 471, Điều 474, Điều 476 Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 335, Điều 336, Điều 339, Điều 340, Điều 342, Điều 429, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Điều 91 và Điều 95 Luật tổ chức tín dụng năm 2010;

Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP X nay là Ngân hàng TMCP X (P).

Buộc bà Lê Thị T3 - Chủ Doanh nghiệp tư nhân T6 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP X nay là Ngân hàng TMCP X (P) tính đến ngày 17/4/2024, tổng số tiền là 10.507.932.373 đồng (trong đó vốn gốc 2.068.941.209 đồng và lãi 8.438.991.164 đồng).

Kể từ ngày 18 tháng 4 năm 2024, bà Lê Thị T3 - Chủ Doanh nghiệp tư nhân T6 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP X nay là Ngân hàng TMCP X (P) yêu cầu Ngân hàng X - Chi nhánh A nay là Ngân hàng X khu vực Đồng Tháp - An Giang thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh vay vốn là thanh toán toàn bộ khoản nợ thay cho bà Lê Thị T3 - Chủ Doanh nghiệp tư nhân T6 theo chứng thư bảo lãnh số 08/NHPT.AGI.CTBL ngày 15/4/2010.

Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

Lê Thị T3 - Chủ Doanh nghiệp tư nhân T6 phải nộp 118.507.932 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

Ngân hàng TMCP X nay là Ngân hàng TMCP X (P) được hoàn lại số tiền 59.067.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0014860 do Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 26 tháng 12 năm 2023.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của các đương sự vắng mặt được tính là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND H. Chợ Mới;
  • - Chi cục THADS H. Chợ Mới;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Tuyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2024/KDTM-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo lãnh

  • Số bản án: 02/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng bảo lãnh
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 17 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 09/2023/TLST-KDTM ngày 26 tháng 12 năm 2023 về việc tranh chấp “Hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo lãnh” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 146/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP X nay là Ngân hàng TMCP X (P). Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn: bà Đinh Thị Huyền T - Tổng Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Phạm Văn T1 Em - CV xử lý và thu hồi nợ Ngân hàng TMCP X, địa chỉ: số A đường T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (theo giấy ủy quyền ngày 26/02/2024 và ngày 16/4/2024) (có mặt). Và bà Nguyễn Thị T2 - Cán bộ Phòng xử lý và thu hồi nợ Ngân hàng TMCP X, địa chỉ: Tầng L, số D N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (theo giấy ủy quyền ngày 16/4/2024) (có mặt). 2. Bị đơn: bà Lê Thị T3 - Chủ Doanh nghiệp tư nhân T6, địa chỉ: ấp T, xã M, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger