Hệ thống pháp luật

Ngày: 16/5/2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Vĩnh Lộc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. bà Lê Thị Minh Thắm
  2. ông Võ Thành Nhân

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Thoảng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho tham gia phiên toà: bà Phạm Trà My – Kiểm sát viên

Ngày 16 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 29/2023/TLST-KDTM ngày 24 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2023/QĐXX - DS ngày 26 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S

Địa chỉ: 2 N, phường H, quận C, TP .

Người đại diện theo ủy quyền: anh Nguyễn Hào Q – trưởng phòng G, chi nhánh T.

Bị đơn: anh Lê Bá D, sinh năm 1979

chị Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1987 – chủ hộ kinh doanh tạp hóa K

Địa chỉ: 38A tổ 6 ấp B, xã T, TP ., tỉnh Tiền Giang.

Người đại diện theo ủy quyền: anh Đỗ Văn C, sinh năm 1984

HKTT: ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau

Cư trú: 317/12 đường huyện I, ấp M, xã M, TP ., Tiền Giang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

cháu Lê Nguyễn Yến N, sinh năm 2013

cháu Lê Phong L, sinh năm 2016

Địa chỉ: C tổ F ấp B, xã T, TP ., tỉnh Tiền Giang.

Đại diện theo pháp luật cháu N, cháu L: anh Lê Bá D, chị Nguyễn Thị Kim H.

Anh Q có mặt, anh C vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Tại đơn khởi kiện ngày 30 tháng 10 năm 2023 của Ngân hàng TMCP S và quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa anh Nguyễn Hào Q là người đại diện của nguyên đơn trình bày:

Ngân hàng TMCP S có ký với anh Nguyễn Bá D1 và chị Nguyễn Thị Kim H hợp đồng tín dụng sau:

  • - Hợp đồng tín dụng số: [...] ngày 23/02/2022
  • Số tiền cho vay: 1.200.000.000 đồng.
  • Mục đích vay vốn: bổ sung vốn kinh doanh tạp hóa
  • Thời hạn vay: 120 tháng từ ngày giải ngân 24/02/2022.
  • Lãi suất thời điểm giải ngân là 10%/năm. Lãi suất cho vay cố định trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày tiếp theo bên được cấp tín dụng nhận tiền vay. Lãi suất từ tháng thứ 12 trở đi sẽ được điều chỉnh bằng LS tiết kiệm 24 tháng bậc thang cao nhất của ngân hàng đang áp dụng cộng với biên độ 3,3%/năm; lãi suất cho vay sẽ điều chỉnh 03 tháng/ 01 lần.
  • Lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn.
  • Phương thức trả: Gốc lãi trả hàng tháng.

Quá trình thực hiện hợp đồng, anh D1 và chị H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho ngân hàng. Tạm tính đến ngày 16/5/2024, anh D1 và chị H còn nợ Ngân hàng số tiền: 1.127.452.366 đồng trong đó nợ gốc là 1.010.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 107.626.792 đồng, nợ lãi quá hạn là 5.517.165 đồng, lãi chậm trả lãi là 4.308.409 đồng.

Để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ, anh D1 và chị H đã thế chấp cho ngân hàng quyền sử dụng đất tại thửa 22 tờ bản đồ số 38 diện tích 58,78 m² đất ở theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ748062, số vào sổ cấp giấy chứng nhận H02911 do Ủy ban nhân dân thành phố M cấp ngày 07/4/2006 cho ông Lê Bá D; theo Hợp đồng thế chấp số [...] ngày 23/02/2022.

Nay Ngân hàng yêu cầu giải quyết:

  1. Buộc Anh D và chị H phải trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền nợ: 1.127.452.366 đồng trong đó nợ gốc là 1.010.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 107.626.792 đồng, nợ lãi quá hạn là 5.517.165 đồng, lãi chậm trả lãi là 4.308.409 đồng.
  2. Và buộc anh D và chị H phải tiếp tục trả tiền lãi cho Ngân hàng theo mức lãi suất nợ quá hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng trên số nợ gốc thực tế cho đến khi thi hành án xong.
  3. Trường hợp anh D và chị H không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

Tại biên bản hòa giải ngày 26 tháng 3 năm 2024, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là anh Đỗ Văn C trình bày:

Anh D và chị H thừa nhận có vay tiền của Ngân hàng TMCP S và còn nợ số tiền nợ gốc là 1.010.000.000 đồng. Đối với số tiền lãi phát sinh thì anh D và chị H sẽ xem lại.

Nay đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thì anh D và chị H đồng ý trả nợ nhưng cần thời gian để tự xử lý tài sản để trả nợ cho ngân hàng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho phát biểu quan điểm

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng quy định pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

  1. Về sự vắng mặt của đương sự: anh Đỗ Văn C đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền: Ngân hàng yêu cầu anh D và chị H trả số tiền nợ vay, nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

  1. Ngân hàng khởi kiện yêu cầu anh D và chị H trả tiền nợ đã vay gốc và tiền lãi. Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng là các “Hợp đồng tín dụng” và “Giấy nhận nợ” do Ngân hàng cung cấp có chữ ký của anh D và chị H. Có đủ cơ sở xác định giữa Ngân hàng và anh D và chị H đã xác lập hợp đồng tín dụng theo quy định tại Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng.
  2. Tại biên bản hòa giải ngày 26/3/2024, người đại diện theo ủy quyền của anh D và chị H thừa nhận có vay và còn nợ Ngân hàng số tiền nói trên. Khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ

quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Như vậy, việc anh D và chị H đã vay của Ngân hàng và còn nợ số tiền gốc là 1.010.000.000 đồng như Ngân hàng trình bày là có thật.

  1. Theo quy định tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự thì: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn”. Xét thấy anh D và chị H đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền, do đó Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị của Kiểm sát viên, chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng, buộc anh D và chị H trả cho Ngân hàng số tiền gốc tính đến ngày 16/5/2024 theo hợp đồng tín dụng số [...] ngày 23/02/2022 là 1.010.000.000 đồng.

[5] Xét yêu cầu trả tiền lãi: Ngân hàng yêu cầu anh D và chị H trả tiền lãi trong hạn, tiền lãi quá hạn và tiền lãi chậm trả lãi trong hạn. Xét thấy Ngân hàng yêu cầu anh D và chị H trả tiền lãi là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 8 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

  1. Kể từ ngày 17/5/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ thì anh D và chị H vẫn phải tiếp tục trả lãi theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận tại các hợp đồng tín dụng.
  2. Đối với Hợp đồng thế chấp tài sản số [...] ngày 23/02/2022 được giao kết giữa các bên có nội dung phù hợp với quy định pháp luật, được công chứng hợp pháp nên là hợp đồng có hiệu lực pháp luật.
  3. Căn cứ vào nội dung hợp đồng, có đủ cơ sở xác định anh D và chị H đã dùng tài sản của mình là quyền sử dụng đất tại thửa 22 tờ bản đồ số 38 diện tích 58,78 m² đất ở theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ748062, số vào sổ cấp giấy chứng nhận H02911 do Ủy ban nhân dân thành phố M cấp ngày 07/4/2006 cho ông Lê Bá D thế chấp cho Ngân hàng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Do đó, trường hợp anh D và chị H không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
  4. Căn cứ biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 27/02/2024 thì trên phần đất thế chấp có một căn nhà cấp 3, anh D và chị H chưa làm thủ tục đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu. Tại Điều 2 của Hợp đồng thế chấp tài sản các bên không nêu căn nhà trong mục tài sản thế chấp nhưng cũng không loại trừ chỉ thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất. Theo quy định tại khoản 3 Điều 318 của Bộ luật Dân sự: “Trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp thì tài sản gắn liền với đất cũng thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Do đó, căn nhà trên đất cũng thuộc tài sản thế chấp nên Ngân hàng được quyền xử lý và số tiền thu được được dùng để thu hồi nợ.
  5. Về chi phí tố tụng: Chi phí cho việc xem xét thẩm định tại chỗ là 2.000.000 đồng. Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận nên anh D và chị H phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng theo quy định tại Điều 157, Điều 165 của Bộ luật tố tụng dân sự. Ngân hàng đã nộp tạm ứng số tiền 2.000.000

đồng nên anh D và chị H có nghĩa vụ trả lại cho Ngân hàng số tiền 2.000.000 đồng chi phí tố tụng.

  1. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
  2. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 299, Điều 317, Điều 318 của Bộ luật Dân sự.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S. Buộc anh Nguyễn Bá D1 và chị Nguyễn Thị Kim H liên đới trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền:
    • Nợ gốc là 1.010.000.000 đồng (một tỷ không trăm mười triệu đồng);
    • Tiền lãi trong hạn là 107.626.792 đồng (một trăm lẻ bảy triệu sáu trăm hai mươi sáu nghìn bảy trăm chín mươi hai đồng);
    • Tiền lãi quá hạn là 5.517.165 đồng (năm triệu năm trăm mười bảy nghìn một trăm sáu mươi lăm đồng);
    • Tiền lãi chậm trả lãi: 4.308.409 đồng (bốn triệu ba trăm lẻ tám nghìn bốn trăm lẻ chín đồng).
  2. Kể từ ngày 17/5/2024 cho đến khi thi hành án xong, anh Lê Bá D và chị Nguyễn Thị Kim H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số: [...] ngày 23/02/2022.
  3. Trường hợp anh Lê Bá D và chị Nguyễn Thị Kim H không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là: quyền sử dụng đất tại thửa 22 tờ bản đồ số 38 diện tích 58,78 m² đất ở theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ748062, số vào sổ cấp giấy chứng nhận H02911 do Ủy ban nhân dân thành phố M cấp ngày 07/4/2006 cho ông Lê Bá D và các tài sản gắn liền với đất; theo hợp đồng thế chấp số [...] ngày 23/02/2022.
  4. Về án phí:
  5. Anh Nguyễn Bá D1 và chị Nguyễn Thị Kim H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 45.823.000 đồng.

Ngân hàng thương mại cổ phần S được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 21.936.000 đồng theo biên lai thu tiền số 5383 ngày 24 tháng 11 năm 2023 của Cơ quan thi hành án dân sự thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

  1. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh;
  • - VKSND huyện;
  • - Các đương sự;
  • - Chi Cục THADS;
  • - Lưu.

TM - HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Vĩnh Lộc

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2023/TLST-KDTM ngày 16/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 29/2023/TLST-KDTM
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger