Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2024/HC-ST

Ngày: 15 – 8 – 2024

V/v Khiếu kiện quyết định xử phạt

vi phạm hành chính

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thành

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Trần Quang Cảnh.
  2. Bà Võ Kim Hường.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Thu Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2024, Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý 02/2024/TLST-HC ngày 04 tháng 6 năm 2024 về việc “Khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 949/2024/QĐXXST-HC ngày 29 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Người khởi kiện: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1947; Địa chỉ: 1 L, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Trọng D, sinh năm 1978; Địa chỉ: C L, Phường F, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.
  2. Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T; Địa chỉ: G L, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Văn T – Chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T, có mặt.
  3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
    1. Phòng Quản lý đô thị quận T; Địa chỉ: G T, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1978, có mặt.
    2. Ông Nguyễn Văn D1, sinh năm 1977; Địa chỉ: Lô E Đường B, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định, xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 04/6/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm người khởi kiện ông Nguyễn Văn Đ do ông Nguyễn Trọng D – người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 15 tháng 05 năm 2024 Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường T ban hành Quyết định số 27/QĐ-XPHC về việc xử phạt vi phạm hành chính.

Quyết định xử phạt vi phạm hành chính căn cứ Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh lực giao thông đường bộ và đường sắt, có liệu lực ngày 01/01/2020.

Quyết định xử phạt vi phạm hành chính căn cứ Biên bản vi phạm hành chính số 39/BB-VPHC do Ủy ban nhân dân Phường T lập hồi 14 giờ 30 ngày 13/05/2024. (Biên bản này gia đình đình ông Đ không nhận được, tuy nhiên nếu trong Biên bản này ghi thời điểm gia đình ông Đ vi phạm (làm cổng) là ngày 13/05/2024 là hoàn toàn không đúng, vì cổng này gia đình ông Đ làm để chống trộm từ khi có nhà đất là trước năm 1961).

Điều 152 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2020 quy định:

“1. Chỉ trong trường hợp thật cần thiết để bảo đảm lợi ích chung của xã hội, thực hiện các quyền, lợi ích của tổ chức, cá nhân được quy định trong luật, nghị quyết của Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan trung ương mới được quy định hiệu lực trở về trước.

2. Không được quy định hiệu lực trở về trước đối với các trường hợp sau đây:

a) Quy định trách nhiệm pháp lý mới đối với hành vi mà vào thời điểm thực hiện hành vi đó pháp luật không quy định trách nhiệm pháp lý

b) Quy định trách nhiệm pháp lý nặng hơn.

3. Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp, chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt không được quy định hiệu lực trở về trước.”

Căn cứ nội dung của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi bổ sung năm 2020, nội dung của Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh lực giao thông đường bộ và đường sắt thì không có bất kỳ nội dung nào quy định hiệu lực trở về trước để xử lý việc làm cổng vào thời điểm trước năm 1961.

Chính vì vậy Quyết định hành chính số 27/QĐ-XPHC ngày 15 tháng 05 năm 2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường T ban hành không đúng quy định của pháp luật.

Ông Đ không thực hiện hành vi vi phạm hành chính được nêu trong Quyết định xử phạt vi phạm hành chính: “Đã thực hiện hành vi vi phạm hành chính: Tại trước số A Lê Quát Phường T, Quận T dựng cổng ra vào trái phép trong phạm vi đất dành cho đường bộ”.

Ông Đ không dựng cổng ra vào trái phép trong phạm vi đất dành cho đường bộ. Cổng ra vào của gia đình chúng tôi được thực hiện từ trước năm 1961, còn quy hoạch hẻm có từ năm 2008. Như vậy quy hoạch hẻm làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình chúng tôi chứ không phải chúng tôi dựng công ra vào trái phép.

Nếu cho rằng gia đình ông Đ dựng cổng ra vào trái phép thì cần chứng minh vào thời điểm trước năm 1961 việc dựng cổng ra vào là trái phép, hoặc Luật xử lý vi phạm hành chính có điều khoản quy định có hiệu lực trở về thời điểm ông Đ dựng cổng ra vào. Tuy nhiên, Luật xử lý vi phạm hành chính hiện hành và Nghị định 100/2019/NĐ-CP không có điều khoản nào quy định hiệu lực trở về trước (không có quy định hồi tố).

Trong tất cả các buổi làm việc với Phòng Quản lý đô thị Quận T, Ủy ban nhân dân Phường T ông Đ đã trình bày về thời điểm gia đình ông dựng cổng ra vào là trước năm 1975, và hiện không có bất kỳ chứng cứ hay nhân chứng nào xác nhận ông Đ dựng cổng ra vào ở thời điểm hiện tại. Ủy ban nhân dân Phường T không có chứng cứ chứng minh thời điểm gia đình ông Đ đang dựng cổng rào thì bị phát hiện, lập biên bản, chụp hình việc vi phạm.

Từ “Đường bộ” trong Quyết định xử phạt vi phạm hành chính nêu, thực ra là quy hoạch hẻm. Diện tích quy hoạch hẻm là của gia đình đã sử dụng ổn định lâu dài. Việc quy hoạch hẻm chưa thực hiện các bước thông báo cho người dân (gia đình ông Đ là người duy nhất bị ảnh hưởng bởi quy hoạch hẻm) và chưa thực hiện các bước đền bù giải tỏa theo quy định của pháp luật.

Căn cứ Quyết định số 3242/QĐ-UBND ngày 30/06/2017 của Ủy ban nhân dân quận T về việc điều chỉnh, bổ sung danh mục lộ giới các tuyến đường, hẻm từ 12 mét trở xuống trên địa bàn quận T. Tại phần quy định hẻm A L có nội dung lộ giới mới là 5 mét, lộ giới cũ để trống. Điều này có nghĩa là trước khi có quy hoạch hẻm 19 L vào năm 2008 thì đây là lối đi nội bộ của gia đình ông Đ, không có lộ giới vì không phải là quy hoạch hẻm. Qua các Quyết định số 1148/QĐ-UBND ngày 27/05/2008, Quyết định số 7196/QĐ-UBND ngày 30/12/2011, Quyết định số 100/QĐ-UBND ngày 15/01/2015 và Quyết định số 3242/QĐ-UBND ngày 30/06/2017 thì lộ giới quy hoạch hẻm A L là 5 mét. Điều này có nghĩa rằng quy hoạch lộ giới hẻm A L từ 0 (không) mét lên 5 (năm) mét và toàn bộ diện tích quy hoạch hẻm là của gia đình ông Đ đã sử dụng ổn định lâu dài từ trước năm 1961. Do toàn bộ phần diện tích đất quy hoạch lộ giới hẻm A L là của gia đình ông Đ, vì vậy không thể cho rằng gia đình ông Đ dựng cổng rào trên đất của đường bộ được.

Về thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính, theo quy định tại Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 1 đến 2 năm.

Căn cứ hiện trạng cổng ra vào gia đình ông Đ làm từ trước năm 1961. Như vậy, nếu có việc vi phạm (trong trường hợp này gia đình ông Đ không vi phạm) thì cũng đã quá thời hạn xử phạt vi phạm hành chính.

Vì vậy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 27/QĐ-XPHC ngày 15/05/2024 không áp dụng đúng quy định về thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính.

Về phần các biện pháp khắc phục hậu quả thì căn cứ quy định tại Điều 68 khoản 2 Luật xử lý vi phạm hành chính quy định: “2. Thời hạn thi hành quyết định là 10 ngày, kể từ ngày nhận quyết định xử phạt; trường hợp quyết định xử phạt có ghi thời hạn thi hành nhiều hơn 10 ngày thì thực hiện theo thời hạn đó.”, như vậy, nội dung của Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về việc khắc phục hậu quả là 01 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định là không đúng quy định của pháp luật.

Gia đình ông Đ sử dụng nhà đất ổn định lâu dài từ trước năm 1961, không có tranh chấp gì với ai cho đến khi ông Nguyễn Văn D1 mua nhà cạnh nhà ông Đ. Các kiến nghị trái pháp luật, vu khống của ông Nguyễn Văn D1 cho rằng gia đình ông Đ dựng cổng ra vào lấn

chiếm hẻm là nguyên nhân dẫn đến Phòng Quản lý đô thị quận T, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T ban hành các văn bản gây ra các thiệt hại nghiêm trọng cho gia đình ông Đ cả về vật chất lẫn tinh thần.

Ông xác nhận, ông Đ đã nhận được Quyết định hủy bỏ quyết định trong xử phạt vi phạm hành chính số 1193/QĐ-HB ngày 14/6/2024, với nội dung: Hủy bỏ Quyết định số 27/QĐ-XPHC ngày 15/5/2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T.

Nay ông đại diện cho ông Đ yêu cầu Tòa án tuyên hủy Quyết định số 27/QĐ-XPHC ngày 15/5/2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T.

Tại các lời khai và tại các biên bản đối thoại, người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T do ông Phạm Văn T - người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 13/5/2024, Ủy ban nhân dân phường T (gọi tắt là Ủy ban nhân dân phường) lập biên bản vi phạm hành chính về lĩnh vực giao thông đường bộ (do công chức Trật tự đô thị lập); Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường B Quyết định số 27/QĐ-XPHC ngày 15/5/2024 về xử phạt vi phạm hành chính;

Qua công tác rà soát văn bản tại đơn vị. Thì căn cứ Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính.

“………7. Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 18 Luật xử lý hành chính năm 2012

3. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ trang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, thủ trưởng cơ quan, đơn vị của người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính có trách nhiệm phát hiện quyết định về xử lý vi phạm hành chính do mình hoặc do cấp dưới ban hành có sai sót và kịp thời đính chính, sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ, ban hành quyết định mới theo thẩm quyền.

Căn cứ Khoản 1 Điều 13 Nghị định 118/2021/NĐ-CP ngày 23/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định hủy bỏ, ban hành quyết định mới trong xử phạt vi phạm hành chính

“1. Người đã ban hành quyết định tự mình hoặc theo yêu cầu của những người quy định tại khoản 3 Điều 18 Luật Xử lý vi phạm hành chính phải ban hành quyết định hủy bỏ toàn bộ nội dung quyết định nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

  • Không đúng đối tượng vi phạm;
  • Vi phạm quy định về thẩm quyền ban hành quyết định;
  • Vi phạm quy định về thủ tục ban hành quyết định;
  • Trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 12 Luật Xử lý vi phạm hành chính;
  • Trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 12 Luật Xử lý vi phạm hành chính;
  • Trường hợp quy định tại khoản 10 Điều 12 Luật Xử lý vi phạm hành chính;
  • Trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 62 Luật Xử lý vi phạm hành chính;
  • Trường hợp không ra quyết định xử phạt quy định tại khoản 1 Điều 65 Luật Xử lý vi phạm hành chính”.

Trên cơ sở trên, ngày 13/6/2024 Ủy ban nhân dân phường có buổi làm việc, xác minh về vụ việc vi phạm. Ngày 14/6/2024, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường B Quyết định số 1193/QĐ-HB về hủy bỏ quyết định trong xử phạt vi phạm hành chính.

Nay khi ông Đ khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định số 27/QĐ-XPHC ngày 15/5/2024 về xử phạt vi phạm hành chính thì đối tượng khởi kiện không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Tại các lời khai và tại các biên bản đối thoại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Phòng Quản lý đô thị quận T do ông Nguyễn Văn Đ1 - người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Do Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 27/QĐ-XPHC ngày 15/5/2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T đã bị hủy bỏ theo Quyết định số 1193/QĐ-HB ngày 14/6/2024 về hủy bỏ quyết định trong xử phạt vi phạm hành chính nên ông đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Tại các lời khai và tại các biên bản đối thoại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn D1 trình bày:

Năm 2016, ông mua nhà 58/19/1 Lũy Bán Bích số mới 1 L, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Theo quy hoạch tại Quyết định số 1148/QĐ-UBND ngày 27/5/2008 của UBND quận T thì hẻm A L lộ giới 4m, hẻm A L lộ giới 5m. Hai hẻm này là lối đi chung nhưng gia đình ông Đ đã xây dựng cổng rào và lợp mái che trái quy định để lấn chiếm hẻm A L làm của riêng.

Từ năm 2020, ông đã nhiều lần gửi đơn đến Ủy ban nhân dân phường T để giải quyết theo quy định.

Ngày 10/9/2020, Ủy ban nhân dân phường T và Phòng Quản lý đô thị quận T đã xuống kiểm tra và lập biên bản yêu cầu ông Đ tháo dỡ phần cổng ngõ, mái che, cột sắt phía trước hẻm trả lại hiện trạng nhưng gia đình ông Đ không thực hiện.

Sự việc này ông tiếp tục gửi đơn đến Ủy ban nhân dân quận T và được Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận T chỉ đạo Phòng Quản lý đô thị quận và Ủy ban nhân dân phường T theo quy định pháp luật.

Việc Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 27/QĐ-XPHC ngày 15/5/2024 là đúng quy định của pháp luật. Nay khi ông Đ yêu cầu hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 27/QĐ-XPHC ngày 15/5/2024 thì ông không đồng ý, ông đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay:

  • Đại diện nguyên đơn: Vẫn giữ nguyên yêu cầu như trên.
  • Đại diện bị đơn: Vẫn giữ ý kiến như trên.
  • Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Phòng Quản lý đô thị quận T: Vẫn giữ ý kiến như trên.
  • Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn D1 vẫn giữ nguyên ý kiến như trên và xin vắng mặt.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa cụ thể như sau:

Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của Pháp luật tố tụng hành chính từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án. Người khởi kiện, người bị kiện đã chấp hành và thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 55, 56 và 57 của Luật tố tụng hành chính.

Về quan điểm giải quyết nội dung vụ án: Theo phát biểu ý kiến tại phiên tòa sơ thẩm ngày 15/8/2024, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 18 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2022; khoản 1 Điều 30, khoản 1 Điều 31, điểm a khoản 2 Điều 193 của Luật tố tụng hành chính: Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về đối tượng bị khởi kiện: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 27/QĐ-XPHC ngày 15/5/2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T.

[1.2] Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 15/5/2024, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường B Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 27/QĐ-XPHC ngày 15/5/2024. Ngày 24/5/2024, Tòa án nhân dân quận Tân Phú nhận được đơn khởi kiện của ông Đ, căn cứ vào Điều 116 của Luật tố tụng hành chính thì vụ án còn thời hiệu khởi kiện.

[1.3] Về thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào khoản 1 Điều 31 của Luật tố tụng hành chính thì vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

[1.4] Về việc xác định tư cách tham gia tố tụng của người bị kiện:

Căn cứ vào khoản 8 Điều 3 Luật tố tụng hành chính thì ông Đ là người khởi kiện.

Căn cứ vào khoản 9 Điều 3 của Luật tố tụng hành chính thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường là người bị kiện.

[1.5] Về việc xác định lĩnh vực khiếu kiện trong vụ án này là “Khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính”.

[1.6] Ông Nguyễn Văn D1 có đơn xin vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 157, Điều 158 Luật tố tụng hành chính.

[2] Về nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Đ về việc yêu cầu Tòa án hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 27/QĐ-XPHC ngày 15/5/2024. Tuy nhiên Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 27/QĐ-XPHC ngày 15/5/2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T bị hủy bỏ bởi Quyết định hủy bỏ quyết định trong xử phạt vi phạm hành chính số 1193/QĐ-HB ngày 14/6/2024. Hội đồng xét xử sơ thẩm căn cứ vào khoản 3 Điều 191 của Luật tố tụng hành chính, đánh giá tính hợp pháp của Quyết định số 1193/QĐ-HB ngày 14/6/2024 cụ thể như sau:

[2.1] Về thẩm quyền ban hành Quyết định hủy bỏ quyết định trong xử phạt vi phạm hành chính số 1193/QĐ-HB ngày 14/6/2024.

Căn cứ Quyết định số 2299/QĐ-GQXP ngày 29/12/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T về việc giao quyền xử phạt vi phạm hành chính cho Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường P do đó Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 27/QĐ-XPHC ngày 15/5/2024 và Quyết định hủy bỏ quyết định trong xử phạt vi phạm hành chính số 1193/QĐ-HB ngày 14/6/2024 được ban hành đúng thẩm quyền phù hợp với quy định tại Điều 54, Điều 87 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

[2.2] Về trình tự, thủ tục ban hành, nội dung Quyết định hủy bỏ quyết định trong xử phạt vi phạm hành chính số 1193/QĐ-HB ngày 14/6/2024.

Theo quy định tại Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính thì:

“………7. Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 18 Luật xử lý hành chính năm 2012

3. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, thủ trưởng cơ quan, đơn vị của người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính có trách nhiệm phát hiện quyết định về xử lý vi phạm hành chính do mình hoặc do cấp dưới ban hành có sai sót và kịp thời đính chính, sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ, ban hành quyết định mới theo thẩm quyền.

Căn cứ Khoản 1 Điều 13 Nghị định 118/2021/NĐ-CP ngày 23/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định hủy bỏ, ban hành quyết định mới trong xử phạt vi phạm hành chính:

“1. Người đã ban hành quyết định tự mình hoặc theo yêu cầu của những người quy định tại khoản 3 Điều 18 Luật Xử lý vi phạm hành chính phải ban hành quyết định hủy bỏ toàn bộ nội dung quyết định nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

  • Không đúng đối tượng vi phạm;
  • Vi phạm quy định về thẩm quyền ban hành quyết định;
  • Vi phạm quy định về thủ tục ban hành quyết định;
  • Trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 12 Luật Xử lý vi phạm hành chính;
  • Trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 12 Luật Xử lý vi phạm hành chính;
  • Trường hợp quy định tại khoản 10 Điều 12 Luật Xử lý vi phạm hành chính;
  • Trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 62 Luật Xử lý vi phạm hành chính;
  • Trường hợp không ra quyết định xử phạt quy định tại khoản 1 Điều 65 Luật Xử lý vi phạm hành chính”.

Theo quy định tại mục III Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 của Tòa án nhân dân tối cao thì “Trường hợp tại phiên tòa sơ thẩm, người bị kiện xuất trình quyết định hành chính mới sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ quyết định bị khởi kiện mà người khởi kiện đồng ý rút đơn khởi kiện thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. Nếu người khởi kiện không rút đơn khởi kiện thì Tòa án phải tiếp tục xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính bị khởi kiện và quyết định hành chính mới. Trong trường hợp này, Tòa án căn cứ vào khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 để tùy vào từng trường hợp cụ thể mà bác yêu cầu khởi kiện nếu yêu cầu đó không có căn cứ pháp luật hoặc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện nếu quyết định

hành chính bị khởi kiện, quyết định hành chính mới trái pháp luật. Trường hợp quyết định hành chính mới có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác thì phải tạm ngừng phiên tòa để đưa cơ quan, tổ chức, cá nhân đó tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và giải quyết vụ án theo thủ tục chung”.

Quyết định số 1193/QĐ-HB về huỷ bỏ Quyết định số 27/QĐ-XPHC của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T do ông Phạm Văn T, Phó Chủ tịch UBND phường T ký là phù hợp về thẩm quyền quy định khoản 3 Điều 18 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2022; khoản 4 Điều 57 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 nên Quyết định số 1193/QĐ-HB có hiệu lực pháp luật.

Từ các nhận định trên cho thấy đối tượng khởi kiện của vụ án không còn nên Hội đồng xét xử bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Đ.

[3] Về án phí:

Ông Nguyễn Văn Đ là người cao tuổi và có đơn yêu cầu miễn giảm án phí nên được xem xét miễn giảm án phí theo quy định tại điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, khoản 1 Điều 31, khoản 4 Điều 57, Điều 157, Điều 158, điểm a khoản 2 Điều 193, Điều 204, 206 và 348 của Luật tố tụng hành chính;

Căn cứ vào khoản 3 Điều 18 Luật xử lý vi phạm hành chính;

Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Đ về việc yêu cầu hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 27/QĐ-XPHC ngày 15/5/2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T.
  2. Về án phí: Ông Nguyễn Văn Đ là người cao tuổi và có đơn yêu cầu miễn giảm án phí nên được xem xét miễn giảm án phí theo quy định tại điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  3. Về quyền kháng cáo.

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 309, 311 của Luật tố tụng hành chính thì người được thi hành án hành chính, người phải thi hành án hành chính có quyền thỏa thuận Thi hành án, quyền yêu cầu Thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo quy định tại các Điều 10, 11, 12 và 15 của Nghị định số: 71/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định thời hạn, trình tự, thủ

tục thi hành án hành chính và xử lý trách nhiệm đối với người không thi hành bản án, quyết định của Tòa án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 312 của Luật tố tụng hành chính.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND Tp. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND quận Tân Phú;
  • - Chi cục THADS quận Tân Phú;
  • - Lưu VT, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đức Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2024/HC-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính

  • Số bản án: 02/2024/HC-ST
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger