Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUỲNH LƯU

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 02/2024/KDTM - ST

Ngày: 15 - 4 - 2024

V/v "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hồ Sỹ Mạnh.

Các hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thường và ông Hồ Hữu Thoả.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thuý Nga - Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Quỳnh Lưu xét xử sơ thẩm công khai vụ án Kinh doanh thương mại sơ thẩm thụ lý số 09/2023/TLST- KDTM, ngày 17 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2024/QĐXXST - KDTM ngày 12 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2024/QÐST – KDTM ngày 28 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP P (O).

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Văn T – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Địa chỉ: Số D & D đường L, phường B, quận A, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Phi H – Chức vụ: Giám đốc phòng G (theo văn bản ủy quyền số 66/2021/UQ-CT.HĐQT ngày 30/6/2021 của Chủ tịch Hội đồng quản trị ngân hàng P.

Người được ông Lê Phi H ủy quyền lại: Ông Vũ Trọng Tú A, sinh năm 1994 (theo văn bản ủy quyền ngày 11 tháng 10 năm 2023).

Địa chỉ: A đường N, thành phố V, tỉnh Nghệ An - Có mặt

- Bị đơn: Anh Lê Tiến M, sinh năm 1983 - Vắng mặt.

Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1985 - Vắng mặt.

Cùng nơi cư trú: Thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 20/4/2022 Ngân hàng TMCP P ký Hợp đồng tín dụng số 0098/2022/HĐTD/OCB/CN với chị Nguyễn Thị T1 anh Lê Tiến M, vay vốn số tiền 4.660.000.000₫ (Bốn tỷ sáu trăm sáu mươi triệu đồng); Mục đích vay: Vay bổ sung vốn lưu động kinh doanh mộc dân dụng, gia công trang trí nột thất; thời hạn vay 09 tháng; Lãi suất cho vay trong hạn: 14%/năm trong 3 tháng đầu. Từ tháng thứ 4 trở đi áp dụng lãi suất cho vay điều chỉnh định kỳ 06 tháng/lần theo công thức tính lãi suất như sau: Lãi suất cho vay (điều chỉnh) = Lãi suất cơ sở (1) + biên độ lãi suất (2) trong đó Lãi suất cơ sở (1) bằng lãi suất cơ sở kỳ hạn 13 tháng theo biểu lãi suất được Tổng giám đốc ban hành từng thời kỳ + biên độ lãi suất (2): Tối thiểu 3,6 %/năm. Thay đổi lãi suất: OCB được quyền điều chỉnh, thay đổi kỳ điều chỉnh lãi suất, mức lãi suất cơ bản, lãi biên và/hoặc phương thức xác định lãi suất cho vay phải tuân thủ và chịu sự điều chỉnh theo chính sách lãi suất của O tại từng thời kỳ. Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất vay trong hạn. Ngân hàng đã giải ngân đầy đủ số tiền trên bằng phương thức chuyển khoản.

Để đảm bảo cho toàn bộ nghĩa vụ trả nợ của Hợp đồng tín dụng trên, anh Lê Tiến M và chị Nguyễn Thị T1 đã ký Hợp đồng thế chấp bất động sản số 0098/2022/HĐTC/OCB/CN ngày 20/4/2022 thế chấp quyền sử dụng thửa đất số 221, tờ bản đồ số 11, diện tích 691,9m² tại khối I, phường L, thị xã T, tỉnh Nghệ An, được UBND thị xã T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP 387908, số vào sổ cấp GCN: CH 00658 ngày 01/08/2014. Ngày 02/3/2022, cập nhật chuyển nhượng cho ông Lê Tiến M, sinh năm 1983, CCCD số [...] và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1985, số CCCD [...] thường trú tại thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

Kể từ ngày 13/4/2023 chị T1, anh M vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết, khách hàng vi phạm nghĩa vụ trả gốc và lãi phải thanh toán. Sau khi chị T1 anh M vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ phía Ngân hàng đã chuyển khoản vay thành nợ quá hạn, Ngân hàng đã ra thông báo chấm dứt cho vay thu hồi nợ trước hạn và yêu cầu khách hàng thanh toán khoản nợ nhưng khách hàng không hợp tác và luôn trốn tránh làm việc.

Nay ngân hàng đề nghị Tòa án giải quyết buộc anh Lê Tiến M và chị Nguyễn Thị T1 phải liên đới trả nợ cho Ngân hàng TMCP P số tiền dư nợ theo Hợp đồng tín dụng số 0098/2022/HĐTD/OCB/CN ngày 20/4/2022 tính đến ngày 15/4/2024 là: 5.544.761.405đ (Năm tỷ năm trăm bốn mươi bốn triệu bảy trăm sáu mươi mốt nghìn bốn trăm lẻ năm đồng), trong đó nợ gốc: 4.660.000.000đ; lãi trong hạn: 339.870.639đ; Lãi quá hạn: 504.785.298đ; Lãi chậm trả: 40.105.468đ. Buộc anh Lê Tiến M và chị Nguyễn Thị T1 tiếp tục thanh toán các khoản tiền lãi, phí phát sinh theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết từ ngày 16/4/2024 cho đến khi anh Lê Tiến M và chị Nguyễn Thị T1 hoàn thành nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.

Trường hợp giá trị tài sản bảo đảm phát mại tài sản không đủ thanh toán nợ thì anh M, chị T1 tiếp tục có nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng cho đến khi trả nợ xong.

Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm lớn hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm thì số tiền chênh lệch phải được trả cho bên bảo đảm.

Trường hợp anh M, chị T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng được quyền yêu cầu Tòa án tuyên trong bản án ngân hàng có quyền tự mình hoặc yêu cầu yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, phát mại tài sản tài sản thế chấp là thửa đất số 221, tờ bản đồ số 11, diện tích 691,9m² tại khối I, phường L, thị xã T, tỉnh Nghệ An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP 387908, số vào sổ cấp GCN: CH 00658 ngày 01/08/2014. Ngày 2/3/2022, cập nhật chuyển nhượng cho ông Lê Tiến M, sinh năm 1983, CCCD số [...] và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1985, số CCCD [...] thường trú tại thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 0098/2022/HĐTC/OCB/CN ngày 20/4/2022 để thu hồi nợ.

Bị đơn anh Nguyễn Tiến M1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, các Thông báo phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo hoãn; Thông báo kết quả phiên họp; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh M1 vắng mặt, có bản tự khai trình bày ý kiến cho Tòa án như sau:

Tại bản tự khai ngày 22/12/2023 bị đơn anh Lê Tiến M trình bày: Ngày 20/4/2022 anh Lê Tiến M và chị Nguyễn Thị T1 có vay tiền của Ngân hàng TMCP P theo Hợp đồng tín dụng số 0098/2022/HĐTD/OCB/CN ngày 20/4/2022 số tiền 4.660.000.000₫ (Bốn tỷ sáu trăm sáu mươi triệu đồng); thời hạn vay 09 tháng; Lãi suất cho vay trong hạn: 14 %/năm. Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất vay trong hạn. Mục đích vay để bổ sung vốn kinh doanh mộc dân dụng gia công trang trí nội thất. Anh M và chị T1 đã ký vào các Khế ước nhận nợ và đã nhận đủ số tiền 4.660.000.000đ do Ngân hàng giải ngân bằng phương thức chuyển khoản.

Tài sản đảm bảo cho nghĩa vụ vay vốn tại hợp đồng trên là thửa đất số 221, tờ bản đồ số 11, diện tích 691,9m² tại khối I, phường L, thị xã T, tỉnh Nghệ An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP 387908, số vào sổ cấp GCN: CH 00658 ngày 01/08/2014. Ngày 02/3/2022, cập nhật chuyển nhượng cho ông Lê Tiến M, sinh năm 1983, CCCD số [...] và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1985, số CCCD [...] thường trú tại thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 0098/2022/HĐTC/OCB/CN ngày 20/4/2022. Về số tiền nợ gốc vợ chồng anh chưa trả được, tiền lãi suất chị T1 đã trả cho Ngân hàng khoảng 06 tháng tiền lãi cụ thể bao nhiêu tiền anh không rõ.

Nay Ngân hàng TMCP P yêu cầu vợ chồng anh chị trả nợ gốc và lãi suất thì anh không đồng ý, anh đề nghị Ngân hàng cho vợ chồng anh có thời gian phối hợp với Ngân hàng bán thửa đất đang thế chấp ở thị xã T để trả nợ cho Ngân hàng mà không giải quyết thông qua Toà án.

Bị đơn chị Nguyễn Thị T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo hoãn; Thông báo kết quả phiên họp; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng chị Thanh vắng m, không có bản tự khai, không gửi ý kiến trình bày cho Tòa án.

Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa: Thửa đất số 221, tờ bản đồ số 11, diện tích 691,9m² tại khối I, phường L, thị xã T, tỉnh Nghệ An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP 387908, số vào sổ cấp GCN: CH 00658 ngày 01/08/2014. Ngày 02/3/2022, cập nhật chuyển nhượng cho ông Lê Tiến M, sinh năm 1983, và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1985 có tứ cận: Phía đông giáp đất ông N dài 38,3 m; phía tây giáp đường khối dài 30,55m; Phía nam giáp đường dài 14,36m; Phía Bắc giáp đất ông Đ dài 27,13m. Tài sản trên đất gồm 01 nhà 2 tầng và 01 nhà lợp ngói.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu phát biểu ý kiến:

Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ các quy định của BLTTDS.

Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại các Điều 70, 71 BLTTDS.

Bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án của Tòa án là không tuân thủ quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, 72 BLTTDS ảnh hưởng đến thời hạn giải quyết vụ án.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 235, Điều 244, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 317, 318, 319, 320, 351, 463, 466 Bộ luật dân sự; các Điều 91, Điều 94 và Điều 95 Luật các Tổ chức Tín dụng năm 2011 và Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Nghị quyết 03/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định của pháp luật trong giải quyết tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu tại Tòa án nhân dân.

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng TMCP P (O). Buộc anh Lê Tiến M và chị Nguyễn Thị T1 phải trả cho Ngân hàng TMCP P (O) tổng số tiền là 5.544.761.405₫ (trong đó: nợ gốc là 4.660.000.000đ; tiền lãi trong hạn là 339.870.639đ, tiền lãi phạt chậm trả của tiền lãi trong hạn là 40.105.468đ, lãi suất quá hạn của tổng tiền gốc là 504.785.298đ). Bị đơn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh tiếp theo kể từ ngày 16/4/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết.

Nếu anh M, chị T1 không trả nợ thì Ngân hàng O có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm là thửa đất số 221, tờ bản đồ số 11, diện tích 691,9m2 tại khối I, phường L, thị xã T, tỉnh Nghệ An và tài sản gắn liền

với đất theo hợp đồng thế chấp số 0098/2022HĐTC ngày 20/4/2022 giữa ngân hàng O và anh Lê Tiến M, chị Nguyễn Thị T1.

Trường hợp giá trị tài sản bảo đảm phát mại tài sản không đủ thanh toán nợ thì anh M, chị T1 tiếp tục có nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng cho đến khi trả nợ xong. Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm lớn hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm thì số tiền chênh lệch phải được Ngân hàng trả cho bên bảo đảm.

Án phí dân sự sơ thẩm: Anh Lê Tiến M và chị Nguyễn Thị T1 phải liên đới chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn anh Lê Tiến M và chị Nguyễn Thị T1 có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Tại thời điểm ký kết các Hợp đồng với Ngân hàng TMCP P, anh M, chị T1 cư trú tại thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Trong đơn khởi kiện nguyên đơn đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của bị đơn như trong hợp đồng hai bên đã ký kết. Mục đích vay: Vay bổ sung vốn lưu động kinh doanh mộc dân dụng, gia công trang trí nột thất. Đây là vụ án Kinh doanh thương mại “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 BLTTDS năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu.

[1.2] Về việc xét xử vắng mặt của bị đơn: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần đối với bị đơn, nhưng đều vắng mặt. Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt không lý do. Vì vậy, căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Lê Tiến M, chị Nguyễn Thị T1.

[1.3]. Về xác định tư cách tố tụng của nguyên đơn:

Quá trình giải quyết vụ án cho đến khi Tòa án ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử, người khởi kiện là Ngân hàng TMCP P, căn cứ khoản 2 Điều 68 BLTTDS Tòa án xác định nguyên đơn là Ngân hàng TMCP P.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1]. Về yêu cầu thanh toán khoản vay của Ngân hàng:

Hợp đồng tín dụng số 0098/2022/HĐTD/OCB/CN ngày 20/4/2022 giữa Ngân hàng TMCP P và anh Lê Tiến M và chị Nguyễn Thị T1 được các bên ký kết hoàn toàn tự nguyện. Nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm, không trái quy định của pháp luật, tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về nội dung và hình thức hợp đồng. Do đó hợp đồng các bên đã ký kết là hợp pháp, có hiệu lực đối với hai bên và cần được pháp luật bảo vệ. Quá trình thực hiện các hợp đồng, nguyên đơn đã hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ của bên cho vay bằng việc ký các Khế ước nhận nợ số 0098.02/2022/KUNN/OCB/CN ngày 05/01/2023; Khế ước nhận nợ số

0098.03/2022/KUNN/OCB/CN ngày 06/01/2023; Khế ước nhận nợ số 0098.04/2022/KUNN/OCB/CN ngày 06/01/2023; Khế ước nhận nợ số 0098.05/2022/KUNN/OCB/CN ngày 06/01/2023 Ngân hàng đã giao đủ tiền bằng hình thức chuyển khoản. Tuy nhiên, về phía bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng mà hai bên đã ký kết và phải chịu mức lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn, lãi suất chậm trả theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ.

Quá trình thực hiện hợp đồng, anh M, chị T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Thông báo số 9.7/2023/TB-OCB ngày 09/7/2023 của Ngân hàng TMCP P. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, anh M, chị T1 không có mặt và cũng không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ gì khác; anh M, chị T1 vẫn chưa trả hết được tiền gốc cũng như tiền lãi nên phải chịu lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn và lãi suất phạt chậm trả theo cam kết hợp đồng và khế ước nhận nợ mà các bên đã ký kết. Vì vậy, việc Ngân hàng TMCP P khởi kiện yêu cầu anh Lê Tiến M và chị Nguyễn Thị Thanh t số tiền nợ gốc và các khoản tiền lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng đã ký (lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi chậm trả) là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng nên cần chấp nhận. Mức lãi suất mà nguyên đơn yêu cầu phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng nên cần buộc anh M, chị T1 trả cho Ngân hàng TMCP P khoản tiền lãi tạm tính đến ngày 15/4/2024 như Ngân hàng yêu cầu là có căn cứ. Do đó cần buộc bị đơn anh Lê Tiến M và chị Nguyễn Thị Thanh p thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP P toàn bộ nợ gốc và lãi phát sinh tạm tính đến ngày 15/4/2024 là 5.544.761.405đ (Năm tỷ năm trăm bốn mươi bốn triệu bảy trăm sáu mươi mốt nghìn bốn trăm lẻ năm đồng), trong đó nợ gốc: 4.660.000.000đ; lãi trong hạn: 339.870.639đ; Lãi quá hạn: 504.785.298đ; Lãi chậm trả: 40.105.468₫ theo Hợp đồng tín dụng số 0098/2022/HĐTD/OCB/CN ngày 20/4/2022.

Tiền lãi tiếp tục được tính từ ngày 16/4/2024 cho đến khi anh M, chị T1 trả hết nợ cho Ngân hàng TMCP P theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng đã ký với Ngân hàng.

[2.2]. Về yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo của Nguyên đơn trong trường hợp anh M, chị T1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ:

Xét Hợp đồng thế chấp bất động sản số 0098/2022/HĐTC/OCB/CN ngày 20/4/2022 giữa Ngân hàng TMCP P với anh M, chị T1 đều được ký kết bởi người đại diện hợp pháp của bên nhận thế chấp là Ngân hàng và bên thế chấp là chủ tài sản anh M, chị T1. Các bên tham gia ký kết hợp đồng có đủ năng lực hành vi dân sự, trên cơ sở tự nguyện, các thỏa thuận có nội dung và mục đích thực hiện nhu cầu của mỗi bên, không vi phạm điều cấm của pháp luật và trái đạo đức xã hội. Hợp đồng thế chấp được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm. Do đó, hợp đồng thế chấp số 0098/2022/HĐTC/OCB/CN ngày 20/4/2022 có hiệu lực pháp luật và buộc các bên phải thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại hợp đồng. Trong trường hợp anh M, chị T1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP P yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo theo Hợp đồng thế chấp là có căn cứ chấp nhận.

Trường hợp giá trị tài sản bảo đảm phát mại tài sản không đủ thanh toán nợ thì anh M, chị T1 tiếp tục có nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng cho đến khi trả nợ xong. Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm lớn hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm thì số tiền chênh lệch phải được Ngân hàng trả cho bên bảo đảm.

Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ tài sản thế chấp không có thay đổi tăng lên, giảm xuống so với thời định ký hợp đồng thế chấp nên đảm bảo thực hiện theo hợp đồng thế chấp đã ký kết giữa Ngân hàng TMCP P với anh M, chị T1.

[3]. Về chi phí tố tụng: Ngân hàng TMCP P đã nộp số tiền chi phí tố tụng không yêu cầu bị đơn anh M, chị T1 hoàn trả chi phí này cho Ngân hàng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4]. Về án phí:

Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chấp nhận nên anh Lê Tiến M và chị Nguyễn Thị T1 phải chịu toàn bộ án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định.

Trả lại cho Ngân hàng TMCP P số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 235, Điều 244, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 317, 318, 319, 320, 351, 463, 466 Bộ luật dân sự;

- Căn cứ Điều 91, Điều 94 và Điều 95 Luật các Tổ chức Tín dụng năm 2011 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Nghị quyết 03/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu tại Tòa án nhân dân.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng TMCP P (O).

Buộc anh Lê Tiến M và chị Nguyễn Thị T1 liên đới trả cho Ngân hàng TMCP P (O) tổng số tiền là 5.544.761.405đ (trong đó: nợ gốc là 4.660.000.000đ; tiền lãi trong hạn là 339.870.639đ, tiền lãi phạt chậm trả của tiền lãi trong hạn là 40.105.468đ, lãi suất quá hạn của tổng tiền gốc là 504.785.298đ).

Bị đơn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh tiếp theo kể từ ngày 16/4/2024 và các khoản tiền lãi, phí phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết ngày 20/4/2022 cho đến khi anh Lê Tiến M và chị Nguyễn Thị T1 hoàn thành nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.

Trường hợp anh M, chị T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu Tòa án tuyên trong bản án Ngân hàng có quyền tự mình hoặc yêu cầu yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ là thửa đất số 221, tờ bản đồ số 11, diện tích 691,9m² tại khối I, phường L, thị xã T, tỉnh Nghệ An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP 387908, số vào sổ cấp GCN: CH 00658 ngày 01/08/2014. Ngày 02/3/2022, cập nhật chuyển nhượng cho ông Lê Tiến M, sinh năm

1983, CCCD số [...] và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1985, số CCCD [...] thường trú tại thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 0098/2022/HĐTC/OCB/CN ngày 20/4/2022.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 16/4/2024) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 0098/2022/HĐTD/OCB/CN ngày 20/4/2022. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi, lãi suất cho vay thì lãi, lãi suất cho vay được xác định theo thỏa thuận của các bên và văn bản quy phạm pháp luật quy định về lãi, lãi suất có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh lãi, lãi suất.

Trường hợp sau khi phát mãi tài sản bảo đảm vẫn không đủ trả nợ cho Ngân hàng TMCP P thì anh Lê Tiến M và chị Nguyễn Thị T1 tiếp tục có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP P đến khi trả hết nợ. Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm lớn hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm thì số tiền chênh lệch phải được Ngân hàng trả cho bên bảo đảm.

2. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về án phí: Buộc anh Lê Tiến M và chị Nguyễn Thị T1 phải chịu 113.544.000đ (Một trăm mười ba triệu năm trăm bốn mươi bốn nghìn đồng) án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm.

Trả lại cho Ngân hàng TMCP P số tiền 61.080.000đ (Sáu mươi mốt triệu không trăm tám mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005299 ngày 15/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu, tỉnh

4. Nguyên đơn Ngân hàng TMCP P có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn anh Lê Tiến M, chị Nguyễn Thị Thanh vắng m1 tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND h. Quỳnh Lưu;
  • - Chi cục THADS h. Quỳnh Lưu;
  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

HHồ Sỹ Mạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2024/KDTM - ST ngày 15/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 02/2024/KDTM - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP P Bị đơn: Lê Tiến M, chị Nguyễn Thị T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger