TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC TỈNH BẾNTRE Bản án số: 02/2024 /KDTM - ST Ngày: 13/05/2024 V/v: “Tranh chấp hợp đồng mua bán”. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC - TỈNH BẾN TRE
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đỉnh
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Văn Vũ
- Ông Nguyễn Chí Hữu
Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thu Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc.
Trong ngày 13 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 01/2024/TLST – DS ngày 31 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2024/QĐXXST - KDTM ngày 8 tháng4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 53/2024/QÐST- KDTM, ngày 23 tháng4 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công Ty TNHH H2
Địa chỉ trụ sở: D390, tổ C, khu phố C, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai
Người đại diện công ty: Phạm Ngọc H – Chức vụ: Giám đốc
Người đại diện theo ủy quyên của nguyên đơn: Nguyễn Thành N, sinh năm 1981 (có mặt)
Địa chỉ: Tổ D, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai
Bị đơn: Công Ty TNHH S – DV Nguyễn Huy N1
Địa chỉ: Thửa đất số 06, tờ bản đồ số 18, ấp H, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre
Đại diện theo pháp luật: Nguyễn Đức H1 – Giám đốc (vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 22/12/2023 của Công ty TNHH H2, và lời trình bày của đại diện Công ty TNHH H2 ông Nguyễn Thành N trình bày trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa: theo Hợp đồng số 101121/HV-NHN/HĐ được hai bên ký vào ngày 10/11/2021 có hiệu lực kể từ ngày ký. Công ty TNHH H2 đã bán hàng cho Công ty TNHH S – DV Nguyễn Huy N1. Quá trình thực hiện phương thức giao hàng Công ty TNHH H3 giao hàng cho Công ty TNHH S – DV Nguyễn Huy N1 theo các điều kiện của hợp đồng.
Thời gian giao hàng: theo sự thỏa thuận xác nhận của hai bên từng đơn đặt hàng. Địa điểm giao hàng: thửa đất số 06 tờ bản đồ số 18, ấp H, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre. Phương thức và điều kiện thanh toán: thời hạn thanh toán: Công ty TNHH S Nguyễn Huy N1 có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty TNHH H2 trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận hàng trên cơ sở là phiếu xuất kho và hóa đơn GTGT do Công ty TNHH H2 phát hành theo đúng quy định của Bộ T. Từ thời điểm ngày 10/11/2022 đến ngày 13/4/2022 Công ty TNHH S – DV Nguyễn Huy N1 đã thực hiện thanh toán theo các điều khoản của Hợp đồng mà hai bên đã ký kết. Chi tiết công nợ quá hạn và lãi suất tính đến ngày 15/11/2023 chưa thanh toán cho Công ty TNHH H2 số tiền là 335.849.416 đồng nhưng sau đó Công ty TNHH S – DV Nguyễn Huy N1 đã thanh toán 105.715.371 đồng. Kể từ ngày 24/10/2022 hai bên không còn giao dịch, tổng số tiền gốc Công ty TNHH S – DV Nguyễn Huy N1 còn nợ là 230.134.045 đồng và tiền lãi quá hạn tính đến ngày 15/11/2023 theo lãi suất của Ngân hàng V 8%/năm số tiền là 24.884.550 đồng nhưng sau ngày hòa giải Công ty TNHH S – DV Nguyễn Huy N1 đã trả thêm 10.000.000 đồng.
Yêu cầu Công ty TNHH S – DV Nguyễn Huy N1 phải thanh toán cho Công ty TNHH H2 số tiền gốc và lãi như đã nêu trên. Nhưng tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH H2 rút yêu cầu tính lãi trước và không yêu cầu tính lãi.
Bị đơn Công ty TNHH S – DV Nguyễn Huy N1, người đại diện theo pháp luật bị đơn Nguyễn Đức H1 (Giám đốc) vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án: thống nhất với lời trình bày của đại diện Công ty TNHH H2. Về thời gian ký Hợp đồng và tất cả các điều khoản đã ghi trong Hợp đồng mua bán hàng hóa giữa Công ty TNHH H2 và Công ty TNHH S DV Nguyễn Huy N1 số 101121/HV-NHN/HĐ ngày 10/11/2022 và tại bảng đối chiếu công nợ ngày 01/12/2022 thì Công ty TNHH S – DV Nguyễn Huy N1 còn nợ lại Công ty TNHH H2 số tiền là 335.849.416 đồng. Nhưng sau đó Công ty TNHH S – DV Nguyễn Huy N1 đã thanh toán được 105.134.371 đồng. Như vậy Công ty TNHH S – DV Nguyễn Huy N1 còn nợ Công ty TNHH H2 số tiền là 230.134.371 đồng nhưng sau đó trả thêm 10.000.000 đồng hiện còn nợ 220.134.371 đồng. Như vậy Công ty TNHH S Nguyễn Huy N1 đồng ý trả lại Công ty TNHH H2 số tiền nêu trên. Nhưng do kinh tế gặp nhiều khó khăn nên xin trả dần hàng tháng và không đồng ý tính lãi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Sau khi nghe lời trình bày của các đương sự cũng như tranh luận tại phiên tòa. Sau khi thảo luận nghị án Hội đồng xét xử nhận định: đây là vụ án kinh doanh thương mại. Theo lời trình bày của ông Nguyễn Thành N đại diện ủy quyền của Công ty TNHH H2 và lời tình bày ông Nguyễn Đức H1 đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH S – DV Nguyễn Huy N1 đều xác nhận là hai công ty có ký Hợp đồng mua bán hàng hóa Hợp đồng số 101121/HV-NHN/HĐ ngày 10/11/2022 theo các điều khoản đã ghi trong Hợp đồng các bên cùng thực hiện. Tại bảng đối chiếu công nợ ngày 01/12/2022 thì Công ty TNHH S – DV Nguyễn Huy N1 còn nợ lại Công ty TNHH H2 số tiền là 335.849.416 đồng. Nhưng sau đó Công ty TNHH S – DV Nguyễn Huy N1 đã trả cho Công ty TNHH H2 số tiền là 105.755.045 đồng hiện còn nợ lại 230.134.045 đồng và khoản tiền lãi: tại biên bản hòa giải ngày 5/3/2024 thì ông Nguyễn Đức H1 đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH S Nguyễn Huy N1 đồng ý trả cho Công ty TNHH H2 số tiền nợ gốc là 230.134.045 đồng và ½ tiền lãi tạm tính đến ngày 15/11/2023 nhưng sau đó Công ty TNHH S – DV Nguyễn Huy N1 có đơn thay đổi về sự thỏa thuận trên không đồng ý trả gốc và lãi. Sau đó có trả 10.000.000 đồng. Tại phiên tòa hôm nay ông Nguyễn Thành N đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH H2 yêu cầu Công ty TNHH S DV Nguyễn Huy N1 phải trả lại số tiền gốc là 220.134.045 đồng và không yêu cầu tính lãi thời gian qua. Xét thấy việc mua bán giữa hai công ty là có thật được đại diện hai công ty xác nhận các số nợ còn thiếu lại. Nhưng do Công ty TNHH S – DV Nguyễn Huy N1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Công ty TNHH H2 yêu cầu phải trả số nợ gốc và lãi chậm trả là có căn cứ nên được chấp nhận. Buộc Công ty TNHH S – DV Nguyễn Huy N1 phải trả số tiền nợ gốc là 220.134.045 đồng và rút lại yêu cầu tính lãi (không yêu cầu tính lãi) do đó yêu cầu nguyên đơn được chấp nhận. Buộc Công ty TNHH S DV Nguyễn Huy N1 đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn Đức H1 phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 430, 440 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH H2 do bà Phạm Ngọc H - đại diện theo pháp luật công ty
Buộc Công ty TNHH S – DV Nguyễn Huy N1 đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn Đức H1 có nghĩa vụ trả cho Công ty TNHH H2 do bà Phạm Ngọc H - đại diện theo pháp luật công ty số tiền gốc là 220.134.045 đồng và không tính lãi thời gian qua.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Buộc Công ty TNHH S – DV Nguyễn Huy N1 đại diện là ông Nguyễn Đức H1 phải chịu 5% án phí kinh doanh thương mại có giá ngạch số tiền là 11.007.000 đồng.
Án phí được sung vào Ngân sách Nhà nước
Hoàn trả cho Công ty TNHH H2 số tiền tạm ứng án phí là 6.625.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003074 ngày 31/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn (15) mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Đỉnh |
Bản án số 02/2024/KDTM - ST ngày 13/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC - TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng mua bán
- Số bản án: 02/2024/KDTM - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/05/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC - TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Công Ty H kiện tranh chấp hợp đồng mua bán Công Ty Nguyễn Huy nam
