|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản số: 41/2024/HS-ST Ngày 12/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Duyên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lục Viết Sang
2. Ông Dương Ngô Phiên
Thư ký phiên toà: Bà Lương Thị Hoa – Thư ký Tòa án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhung - Kiểm sát viên;
Ngày 12 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 36/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2023 đối với các bị cáo:
1.Họ tên: Lê Việt A, sinh năm 1993
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;
Nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Tự do; Họ tên bố: Lê Văn T, sinh năm 1971; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị S, sinh năm 1972; Vợ, con: Chưa có; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình;Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân:
- Bản án số 22/2013/HS-ST ngày 24/4/2013 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 01 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Buôn lậu” (chấp chấp hành xong án phí ngày 01/7/2013).
- Bản án số 66/2015/HSST ngày 27/8/2015 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/6/2017, chấp hành xong án phí, hình phạt bổ sung, bồi thường dân sự năm 2015).
- Bản án số 15/2017/HSST ngày 26/10/2017 của Tòa án nhân dân huyện Phục Hòa, tỉnh Cao bằng xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/02/2020, chấp hành xong án phí, hình phạt bổ sung, bồi thường dân sự năm 2017).
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y.(có mặt tại phiên tòa)
2. Họ tên: Nguyễn Đức L, sinh năm 1988;
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;
Nơi ĐKHKTT: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Tự do; Họ tên bố: Nguyễn Đức P, sinh năm 1962; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1967; Vợ: Trần Thị Huyền T2, sinh năm 1994; Con: Bị cáo có 03 con, lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2017; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 11/9/2009 bị UBND quận C, thành phố Hà Nội áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (chấp hành xong ngày 11/9/2011).
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y. (có mặt tại phiên tòa)
* Bị hại:
-
Chùa A1
Đại diện của bị hại là bà Đỗ Thị H, sinh năm 1968 (vắng mặt)
Nơi cư trú: thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
-
Chùa L3
Đại diện của bị hại là bà Hoàng Thị T3, sinh năm 1957 (vắng mặt)
Nơi cư trú: tổ dân phố Phi Mô, thị trấn Vôi, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
-
Chùa Đ3
Đại diện của bị hại là ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1972 (vắng mặt)
Nơi cư trú: thôn Đại Từ, xã Bảo Đài, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
-
Nghè Dầm
Đại diện của bị hại là ông Lê Văn Q, sinh năm 1973 (có mặt)
Nơi cư trú: thôn D, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang
* Nguyên đơn dân sự
-
UBND thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang
Đại diện theo ủy quyền bà Hoàng Thị T3, sinh năm 1957 (vắng mặt)
Nơi cư trú: tổ dân phố P, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang
-
UBND xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1972 (vắng mặt)
Nơi cư trú: thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
-
Ông Dương Văn L1, sinh năm 1966 (vắng mặt)
Nơi cư trú: tổ dân phố số 3, thị trấn Kép, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
-
Ông Nguyễn Đình S1, sinh năm 1964 (vắng mặt)
Nơi cứ trú: thôn D, xã T, huyện L
-
Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1972(có mặt)
Nơi cư trú: thôn Đồ, xã Thái Đào, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
-
Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1967(có mặt)
Nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Việt A, sinh năm 1993 ở thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang và Nguyễn Đức L, sinh năm 1988 ở thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang có mối quan hệ bạn bè, quen biết nhau từ trước. Do không có tiền ăn tiêu nên Việt A và L bàn nhau tìm Đ1, C, Đ2 nào sơ hở, không có người trông coi để trộm cắp tài sản.
Khoảng 14 giờ ngày 20/4/2024, Lê Việt A điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, kiểu dáng WAVE, biển kiểm soát 98Y1- 6381 chở Nguyễn Đức L đi đến “Nghè Dầm” thuộc thôn D, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang thấy không có người trông coi, quản lý nên Việt A dừng lại xuống xe mô tô; Còn L điều khiển xe mô tô ra đường cách “Nghè Dầm” khoảng 25 mét để canh gác, cảnh giới. Sau đó, Việt A cầm 01 thanh sắt phi 10 dài khoảng 30cm mang theo từ trước đi bộ đến cửa lách bên phải (hướng từ ngoài nhìn vào) của “Nghè Dầm” thì thấy cửa lách khóa bằng ổ khóa VIỆP TIỆP nên dùng thanh sắt phá khóa rồi đi vào bên trong. Khi đi vào bên trong Việt A nhìn thấy 01 hòm công đức được làm bằng nhôm kính, đang khóa đặt ở phía bên phải (hướng từ ngoài vào) gần ban thờ chính của “Nghè Dầm” nên đã phá khóa, mở hòm công đức lấy số tiền 67.000 đồng đút vào trong túi quần đang mặc. Sau đó, Việt A nhặt 01 bao tơ dứa gần hòm công đức và đi đến vị trí chiếc chuông bằng đồng treo ở giá cạnh tường bên trái (hướng từ ngoài nhìn vào), dùng tay trái giữ chuông, tay phải vặn ốc khớp nối treo chuông, bê chiếc chuông xuống cho vào bao tơ rứa rồi mang ra ngoài vị trí xe mô tô nơi L đang đứng, còn thanh kim loại để cậy phá ổ khóa cửa Việt A đã vứt trên đường đi. Khi ra đến chỗ L, Việt A dùng chiếc áo mưa L mang theo để quấn quanh bao tơ dứa và điều khiển xe mô tô chở L ngồi sau ôm chiếc chuông đến cửa hàng thu mua phế liệu của ông Dương Văn L1, sinh năm 1966 ở tổ dân phố số C, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Khi đến L ở ngoài đợi, còn Việt A bê tài sản trộm cắp vào bên trong nhưng không có ai nên dùng điện thoại di động gọi cho ông L1 hỏi “Anh đang ở đâu, em bán cho anh ít đồ”, ông L1 nói “Anh không ở nhà, cứ để ở đấy, sáng mai ra” thì Việt A để bao tơ dứa bên trong có chiếc chuông đồng lại rồi đi bộ ra ngồi lên xe để cùng L đi về. Số tiền 67.000 đồng trộm cắp được ở hòm công đức V không nói cho L biết và đã ăn tiêu cá nhân hết. Buổi sáng ngày 21/4/2024, L điều khiển xe mô tô chở Việt A đến cửa hàng thu mua phế liệu của ông L1, khi đến nơi L đứng đợi ở ngoài, còn Việt A đi vào bên trong cửa hàng để lấy số tiền 1.600.000 đồng bán tài sản trộm cắp cho ông L1. Số tiền này Việt A và L đã cùng nhau chi tiêu cá nhân hết.
Ngày 02/5/2024, bà Phạm Thị L2, sinh năm 1949 ở thôn D, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (là người quản lý “Nghè Dầm”) có đơn trình báo đến Công an xã T, huyện Y. Cùng ngày, Công an xã T, huyện Y tiến hành kiểm tra xác minh nơi xảy ra vụ việc thu giữ: 01 (một) hòm khung nhôm, các mặt là kính, kích thước (61 x 42,5 x 27)cm, cánh cửa bị chùn cong, mặt kính tại cánh cửa bị vỡ; 01 (một) thanh kim loại hình trụ, hai đầu gắn ốc số 8; 01 (một) ổ khóa nhãn hiệu VIỆT-TIỆP; 01 (một) thanh kim loại hình chữ U, hai đầu có lỗ xoắn ốc, kích thước (20 x 10,3)cm.
Ngày 03/5/2024, Lê Việt A và Nguyễn Đức L đến Công an huyện Y đầu thú và khai nhận hành vi trộm cắp tài sản tại “Nghè Dầm” ngày 20/4/2024. Quá trình đầu thú thu giữ của Việt A 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia; Thu giữ của L 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng màu đen và 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, kiểu dáng WAVE, biển kiểm soát 98Y1- 6381. Tại kết luận định giá tài sản số 21/KL-HĐĐGTS ngày 03/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y kết luận: Giá trị tài sản chiếc chuông đồng đỏ trên tại thời điểm định giá ngày 20/4/2024 là 8.000.000 đồng. Tại kết luận định giá tài sản số 26/KL-HĐĐGTS ngày 27/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y kết luận: Giá trị của 01 (một) khóa cửa, loại khóa Viettiep trên tại thời điểm định giá tháng 4 năm 2024 là 30.000 đồng; Chi phí thay thế tấm kính vỡ và sửa chữa phần hư hỏng của hòm công đức trên tại thời điểm định giá tháng 4 năm 2024 là 100.000 đồng.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ: 01 (một) file video từ Camera an ninh tại Nghè D, ghi lại hình ảnh liên quan đến vụ trộm cắp tài sản nêu trên. Đồng thời cho Việt A và L xem lại nội dung, kết quả: Việt A và L xác định nội dung trong video là hình ảnh ghi lại hành vi trộm cắp tài sản tại N Dầm của Việt A, L.
Tại Kết luận giám định số: 1229/KL-KTHS ngày 07/6/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B kết luận: File video có tên “5503165846482.mp4", dung lượng 17.9MB, thời lượng 02 phút 40 giây lưu trữ trong 01 (một) đĩa DVD-R gửi giám định; tuy nhiên tại thời điểm từ 14 giờ 06 phút 32 giây đến 14 giờ 11 phút 17 giây (theo thời gian hiển thị trên khung hình video) phát hiện nội dung hình ảnh bị gián đoạn, không xác định được nguyên nhân. Các thời điểm còn lại của tệp tin video không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh.
Ngày 19/6/2024, Cơ quan điều tra tiến hành cho Lê Việt A và Nguyễn Đức L thực nghiệm điều tra tình huống theo lời khai của Việt A, L về hành vi trộm cắp tài sản tại Nghè D. Kết quả: Quá trình thực nghiệm điều tra Việt A và L thực hiện thuần thục các động tác và phù hợp với lời khai.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra Lê Việt A, Nguyễn Đức L đã tác động đến bà Nguyễn Thị S (mẹ đẻ của Việt A ) và bà Nguyễn Thị T1 (mẹ đẻ của L) bồi thường cho bị hại số tiền 12.000.000 đồng (mỗi gia đình bị can bồi thường 6.000.000 đồng). Đến nay bị hại không có yêu cầu, đề nghị về việc bồi thường thiệt hại và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Việt A, L. Bà S và bà T1 không yêu cầu Việt A, L phải trả lại số tiền trên.
Quá trình điều tra Lê Việt A và Nguyễn Đức L khai nhận, ngoài hành vi trộm cắp tài sản nêu trên; Trong khoảng thời gian từ cuối tháng 03/2024 đến ngày 20/4/2024; Lê Việt A và Nguyễn Đức L còn cùng nhau thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản; Lê Việt A thực hiện 01 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện L, huyện L, tỉnh Bắc Giang, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Vào buổi chiều một ngày cuối tháng 3/2024, Lê Việt A nảy sinh ý định trộm cắp tài sản và rủ Nguyễn Đức L tham gia, L đồng ý. Sau đó, Việt A điều khiển xe mô tô 98Y1- 6381 chở L đi đến Chùa Al” thuộc thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang thấy cổng chính của C không khóa, không có người trông coi quản lý nên Việt A bảo L đứng ngoài canh gác, cảnh giới; Còn Việt A đi bộ qua cổng C, trèo qua bờ tường bao bên trái (hướng từ cổng nhìn vào trong) vào bên trong C và đi đến gian trong cùng thì thấy 01 chiếc chuông màu xám, bằng đồng vàng, thân chuông có các họa tiết hoa văn đang treo trên xà gỗ. Việt A đứng dưới nền nhà dùng tay trái đỡ chuông và tay phải tháo móc chuông hạ xuống nền nhà rồi dùng bao tơ dứa nhặt được ở gần đó đựng chiếc chuông. Sau đó, Việt A mở then gỗ cửa lách vác bao tơ dứa đựng chuông đi ra chỗ L, để tài sản trộm cắp được lên yên xe mô tô 98Y1- 6381, rồi điều khiển xe chở L ngồi phía sau đi đến cửa hàng thu mua phế liệu của ông Nguyễn Đình S1, sinh năm 1964 ở thôn D, xã T, huyện L bán được số tiền là 2.000.000 đồng. Số tiền bán tài sản trộm cắp có được Việt A và L đã cùng nhau chi tiêu cá nhân hết.
Ngày 03/05/2024, bà Đỗ Thị H, sinh năm 1968 ở thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (người trông coi quản lý Chùa “Am Trang Tự”) gửi đơn trình báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Bắc Giang (bút lục 157- 158).
Ngày 02/5/2024, ông Nguyễn Đình S1 giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 chiếc chuông màu xám, bằng đồng vàng, nặng 20 kilogam, trên thân chuông có các họa tiết hoa văn, đỉnh chuông có móc.
Tại kết luận định giá tài sản số 50/KL-HĐĐGTS ngày 31/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: Giá trị 01 (một) chiếc chuông màu xám, bằng đồng vàng, nặng 20kg, trên thân chuông có các họa tiết hoa văn, đỉnh chuông có móc treo, sản xuất khoảng năm 2014, tại thời điểm tháng 3/2024 có giá là 7.200.000 đồng.
Quá trình điều tra xác định 01 (một) chiếc chuông (có đặc điểm như trên) là tài sản của C “Am Trang Tự” nên ngày 05/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu bằng hình thức trả lại 01 chiếc chuông trên cho đại diện bị hại bà Đỗ Thị H.
Về trách nhiệm dân sự: Đến nay bị hại không có yêu cầu, đề nghị gì về việc bồi thường thiệt hại.
Vụ thứ hai: Khoảng thời gian 02 ngày sau khi thực hiện vụ trộm cắp tại thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Việt A ngồi ở quán nước tại thành phố B (không nhớ địa chỉ) thì gặp bạn tên N (không rõ địa chỉ). Việt A mượn xe mô tô kiểu dáng Wave của N bảo đi có việc, N đồng ý. Sau đó, Việt A điều khiển xe mô tô đi một mình về hướng huyện L, tỉnh Bắc Giang. Buổi trưa cùng ngày, Việt A đi đến Chùa “L" thuộc tổ dân phố P, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang thì thấy cửa C khóa ngoài, không có người trông coi nên Việt A để xe mô tô ở ngoài đường, đi bộ vào trong C. Khi đi đến khu vực nhà bếp của C “L”, Việt A tìm thấy 01 đoạn sắt dài khoảng 30cm, loại sắt phi 10 và cầm đoạn sắt này đi đến vị trí cửa lách bên trái của C (hướng từ ngoài nhìn vào) phá được khóa cửa lách. Việt Anh mở cửa đi vào bên trong C thì thấy 01 chiếc chuông được làm bằng đồng, màu xám, trên thân chuông có các họa tiết hoa văn, đỉnh chuông có móc treo bằng dây xích tại xà gỗ bên phải (hướng từ ngoài nhìn vào). Việt A đứng dưới nền nhà dùng tay trái đỡ chuông, tay phải tháo dây xích treo chuông rồi cho chuông vào 01 bao tơ dứa nhặt được ở gần đó, mang tài sản trộm cắp được ra xe mô tô rồi điều khiển xe chở tài sản trộm cắp đến cửa hàng thu mua phế liệu của ông Dương Văn L1 bán được số tiền 1.400.000 đồng. Số tiền bán tài sản trộm cắp có được Việt A đã chi tiêu cá nhân hết.
Ngày 06/05/2024, bà Hoàng Thị T3, sinh năm 1957 ở tổ dân phố P, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang (Tổ trưởng tổ dân phố P) gửi đơn trình báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Tại kết luận định giá tài sản số 50/KL-HĐĐGTS ngày 31/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: Giá trị 01 (một) chiếc chuông bằng đồng vàng, nặng 20kg, trên thân chuông có các họa tiết hoa văn, đỉnh chuông có móc treo, sản xuất khoảng năm 2004, tại thời điểm ngày 19/4/2024 có giá là 7.200.000 đồng.
Tại kết luận định giá tài sản số 54/KL-HĐĐGTS ngày 06/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: Giá trị của 01 (một) chiếc khóa treo ngang bấm V (bị hại trình bày mua chiếc khóa trên cách đây khoảng 5 năm trước với giá 40.000 đồng), tại thời điểm ngày 19/4/2024 có giá 10.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra Lê Việt A đã tác động đến bà Nguyễn Thị S bồi thường cho bị hại số tiền 7.200.000 đồng. Đến nay bị hại không có yêu cầu, đề nghị gì về việc bồi thường thiệt hại và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Việt A. Bà S không yêu cầu, đề nghị gì về số tiền trên.
Vụ thứ ba: Khoảng hơn 09 giờ ngày 20/4/2024, Việt A đi nhờ xe mô tô của người đi đường không quen biết từ thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang đến N thuộc phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang thì gặp Nguyễn Đức L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98Y1- 6381 đi đến. Tại đây, Việt A rủ L đi trộm cắp tài sản, L đồng ý. Sau đó, Việt A điều khiển xe mô tô 98Y1- 6381 chở L đi đến Chùa “Đại Từ” thuộc thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang thì thấy không có người trông coi quản lý nên dừng xe mô tô ngoài cổng C và cầm 01 thanh sắt phi 10, dài khoảng 30cm mang theo từ trước vào bên trong; Còn L đứng bên ngoài để canh gác, cảnh giới. Khi vào bên trong C, Việt A thấy cửa chính đóng và khóa ngoài bằng ổ khóa Việt Tiệp nên dùng một đầu của thanh sắt phá được khóa, rồi đi vào bên trong thấy gian nhà bên phải (hướng từ cửa nhìn vào) có 01 chiếc chuông đồng, màu vàng sẫm, hình trụ, bên ngoài có hình hoa văn đang treo trên giá bằng gỗ. Việt A dùng tay phải nhấc chiếc chuông khỏi giá treo rồi nhặt 01 chiếc bao tớ dứa rách, màu xanh đen ở gần đó để bọc chiếc chuông. Sau đó, Việt A bê chiếc chuông ra vị trí bờ tường bên phải C (hướng từ cửa C nhìn ra), ném qua tường bao xuống bãi trồng cây bên ngoài rồi cầm thanh sắt đi bộ ra chỗ L đứng, lên xe mô tô chở L ra khu vực đã vứt chiếc chuông, bê chiếc chuông đặt lên xe mô tô để L ngồi phía sau ôm rồi điều khiển xe mô tô đến cửa hàng thu mua phế liệu của ông Dương Văn L1 để Việt A bán chiếc chuông trên cho ông L1 được số tiền 780.000 đồng, Việt A chia cho L 500.000 đồng. Số tiền cả hai đã chi tiêu các nhân hết.
Ngày 22/05/2024, ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1972 ở thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang (người trông coi quản lý Chùa “Đại Từ”) gửi đơn trình báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Tại kết luận định giá tài sản số 30/KL-HĐĐG ngày 29/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: 01 (một) chiếc chuông bằng đồng (màu vàng đen) hình trụ tròn, nặng 12kg, cao 70cm. Có giá 3.600.000 đồng.
Tại kết luận định giá tài sản số 32/KL-HĐĐGTS ngày 15/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y năm 2024 kết luận: Giá trị của 01 khóa cửa, loại khóa Việt Tiệp trên tại thời điểm định giá ngày 20/4//2024 là 18.000 đồng.
Ngày 17/7/2024, Cơ quan điều tra tiến hành cho Lê Việt A thực nghiệm điều tra tình huống theo lời khai của Việt A về hành vi trộm cắp tài sản tại chùa Đ3. Kết quả: Quá trình thực nghiệm điều tra Việt A thực hiện thuần thục các động tác, tư thế bê chiếc chuông qua bờ tường.
Quá trình điều tra ông Dương Văn L1 khai nhận không mua chiếc chuông có đặc điểm như trên của Việt A. Do có mâu thuẫn trong lời khai của ông L1 và Việt A nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã tiến hành đối chất, tuy nhiên ông L1 từ chối tham gia đối chất.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra Lê Việt A, Nguyễn Đức L đã tác động đến bà Nguyễn Thị S và bà Nguyễn Thị T1 bồi thường cho đại diện C “Đại Từ” số tiền 3.600.000 đồng (mỗi người bồi thường 1.800.000 đồng). Đến nay bị hại không có yêu cầu, đề nghị gì về việc bồi thường thiệt hại và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Việt A, L. Bà S và bà T1 không yêu cầu Việt A, L phải trả lại số tiền trên.
Với nội dung vụ án như trên, tại bản cáo trạng số 39/CT-VKS ngày 14/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế truy tố các bị cáo Lê Việt A, Nguyễn Đức L về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Tại cơ quan điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu trên.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị HĐXX:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Việt A từ 01 năm 10 tháng đến 02 năm tù về tội "Trộm cắp tài sản", thời hạn tù tính từ ngày 03/5/2024.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức L từ 01 năm 04 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản", thời hạn tù tính từ ngày 03/5/2024. Ngoài ra còn đề nghị xử lý về vật chứng và án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo biết hành vi mình là trái pháp luật và ăn năn, hối cải. Đề nghị HĐXX cho các bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Y; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, những người tham gia tố tụng và tại phiên tòa không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của đại diện bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, bản kiểm điểm, bản tường trình, biên bản thực nghiệm điều tra, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, vật chứng thu giữ và kết quả định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y, Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ cơ sở kết luận:
Trong khoảng thời gian từ cuối tháng 03/2024 đến ngày 20/4/2024, Lê Việt A và Nguyễn Đức L đã cùng nhau thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Y, huyện L và huyện L, tỉnh Bắc Giang với tổng giá trị tài sản là 18.800.000 đồng; Ngoài ra, Việt A còn thực hiện 01 vụ trộm cắp tài sản với tổng giá trị tài sản là 7.200.000 đồng và số tiền 67.000 đồng; Cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Vào khoảng đầu giờ chiều một ngày cuối tháng 3/2024, tại Chùa Al” thuộc thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Lê Việt A và Nguyễn Đức L đã có hành vi cùng nhau trộm cắp 01 (một) chiếc chuông màu xám, bằng đồng vàng, nặng 20kg, trên thân chuông có các họa tiết hoa văn, đỉnh chuông có móc treo, có giá trị 7.200.000 đồng.
Vụ thứ hai: Khoảng 02 ngày sau khi thực hiện vụ trộm cắp tài sản thứ nhất, tại Chùa "L" thuộc tổ dân phố P, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Lê Việt A đã có hành vi trộm cắp 01 (một) chiếc chuông bằng đồng vàng, nặng 20kg, trên thân chuông có các họa tiết hoa văn, đỉnh chuông có móc treo, có giá trị 7.200.000 đồng.
Vụ thứ ba: Khoảng hơn 09 giờ ngày 20/4/2024, tại Chùa “Đại Từ” thuộc thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Lê Việt A và Nguyễn Đức L đã có hành vi cùng nhau trộm cắp 01 (một) chiếc chuông bằng đồng (màu vàng đen) hình trụ tròn, nặng 12kg, cao 70cm có giá trị 3.600.000 đồng.
Vụ thứ tư: Khoảng hơn 14 giờ ngày 20/4/2024, tại “Nghè Dầm” thuộc thôn D, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; Lê Việt A và Nguyễn Đức L đã có hành vi cùng nhau trộm cắp 01 (một) chiếc chuông đồng đỏ, hình trụ tròn, trên thân chuông có khắc hoa văn có giá trị 8.000.000 đồng. Ngoài ra, Việt A còn một mình trộm cắp 67.000 đồng tiền công đức.
Tổng giá trị tài sản Lê Việt A đã trộm cắp 04 vụ là 26.067.000 đồng và tổng giá trị tài sản Nguyễn Đức L đã trộm cắp 03 vụ là 18.800.000 đồng.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, khi thực hiện hành vi chiếm đoạt các bị cáo đã đủ tuổi, đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi lén lút đối với chủ sở hữu tài sản nhằm lợi dụng sơ hở của họ để thực hiện với lỗi cố ý chiếm đoạt tài sản, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của Đ1, Đền C1 được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự an ninh tại địa phương. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[4] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tác động đến gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại; “Đầu thú”, đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Bị cáo L có bố đẻ được tặng Kỷ niệm chương vì đã tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu bảo vệ biên giới V - H nên các bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần xem xét để giảm nhẹ cho các bị cáo khi quyết định hình phạt.
[5] Về vai trò của các bị cáo: Trong vụ án này các bị cáo đều đồng ý cùng nhau thực hiện hành vi trộm cắp nên đều là người thực hành, giữa các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ nên là đồng phạm giản đơn. Xét về vai trò thì bị cáo Lê Việt A là người trực tiếp khởi xướng, rủ rê, trực tiếp thực hiện trộm cắp tài sản. Trong đó bị cáo Lê Việt A cùng L đã thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Y, huyện L và huyện L, tỉnh Bắc Giang với tổng giá trị tài sản là 18.800.000 đồng; Ngoài ra, Việt A còn thực hiện 01 vụ trộm cắp tài sản với tổng giá trị tài sản là 7.200.000 đồng và số tiền 67.000 đồng . Bị cáo là người đi tiêu thụ tài sản đã trộm cắp nên có vai trò thứ nhất. Bị cáo Nguyễn Đức L thực hiện canh gác, cảnh giới cho Việt A cùng nhau thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản với tổng giá trị tài sản là 18.800.000 đồng và cùng đi tiêu thụ tài sản đã trộm cắp được nên có vai trò thứ hai. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vai trò, định lượng tài sản trộm cắp của từng bị cáo để quyết định hình phạt theo quy định tại Điều 58 Bộ luật Hình sự;
- Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt là có căn cứ.
Từ những phân tích, đánh giá về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy các bị cáo đều nhận thức rõ việc trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật và có nhân thân xấu, phạm tội với lỗi cố ý nên cần buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo đều không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại khoan 5 Điều 173 Bộ luật hình sự
[6] Về trách nhiệm dân sự: Đại diện các bị hại đều không có yêu cầu gì về việc bồi thường thiệt hại nên HĐXX không xem xét.
[7] Về vật chứng của vụ án:
- Đối với 01 chiếc chuông bằng đồng đỏ ông L1 mua của Việt A, sau đó ông L1 đã bán cho một người không quen biết nên Cơ quan điều tra không thu giữ được. Ngày 07/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã ra Quyết định truy tìm vật chứng số 436A đối với 01 (một) chiếc chuông đồng đỏ nhưng đến nay chưa có kết quả; 01 chiếc chuông bằng đồng vàng trên ông L1 khai đã bán cho một người không quen biết nên Cơ quan điều tra không thu giữ được. Ngày 23/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã ra Quyết định truy tìm vật chứng số 548A đối với 01 (một) chiếc chuông bằng đồng vàng, nặng 20kg, trên thân chuông có các họa tiết hoa văn nhưng đến nay chưa có kết quả; thanh kim loại V1 dùng để phá khóa cửa và ổ khóa của C1 “Linh Sơn” Việt Anh đã vứt đi nhưng không nhớ đã vứt tại vị trí, địa điểm nào nên Cơ quan điều tra không có căn cứ truy tìm; ổ khóa mà Việt A đã phá để đột nhập vào trong C1 “Đại Từ” thì sau khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản xong thì Việt A đã vứt đi (Việt A không nhớ đã vứt tại vị trí, địa điểm nào) nên Cơ quan điều tra không có căn cứ truy tìm;T4 kim loại mà Lê Việt A dùng để phá khóa cửa C1 “Đại Từ” và “Nghè Dầm” thì Việt A đã vứt tại “Nghè Dầm”. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã tiến hành truy tìm nhưng không có kết quả; 04 bao tơ rứa mà Việt A và L dùng để đựng chuông đồng trộm cắp tại Chùa “Đại Từ”, C1 “L”, C1 “Am Trang T5” và “Nghè Dầm” Việt Anh đã để lại cửa hàng thu mua phế liệu của ông L1 và ông S1. Sau đó, ông L1 và ông S1 đã vứt đi nhưng không nhớ là vứt ở đâu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y không có căn cứ truy tìm; 01 chiếc áo mưa Nguyễn Đức L sử dụng để quấn chiếc chuông, L khai đã vứt đi không nhớ ở chỗ nào. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y không có căn cứ truy tìm nên không xử lý được những vật chứng này.
- Đối với 01 (một) hòm khung nhôm, các mặt là kính, kích thước (61 x 42,5 x 27)cm, cánh cửa bị chùn cong, mặt kính tại cánh cửa bị vỡ; 01 (một) thanh kim loại hình trụ, hai đầu gắn ốc số 8; 01 (một) ổ khóa nhãn hiệu VIỆT-TIỆP; 01 (một) thanh kim loại hình chữ U, hai đầu có lỗ xoắn ốc, kích thước (20 x 10,3)cm là tài sản của “Nghè Dầm”. Ngày 24/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu bằng hình thức trả lại các tài sản kể trên cho đại diện bị hại ông Lê Văn Q, sinh năm 1973 ở thôn D, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
- Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, kiểu dáng WAVE, biển kiểm soát 98Y1- 6381 là tài sản của chị Nguyễn Thị Y, sinh năm 1984 ở thôn T, xã Q, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (là chị gái của L); Chị Y không biết Nguyễn Đức L sử dụng xe mô tô để đi trộm cắp tài sản nên ngày 24/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu bằng hình thức trả lại 01 chiếc xe mô tô kể trên cho chị Y.
- Đối với người tên N và xe mô tô V2 mượn của N do Việt A không biết thông tin, địa chỉ cụ thể của N và không nhớ biển kiểm soát của xe mô tô nên Cơ quan điều tra không có căn cứ truy tìm.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về hình phạt:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Việt A.
- Xử phạt Lê Việt A 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 03/5/2024.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Đức L.
- Xử phạt Nguyễn Đức L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 03/5/2024.
- Không phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo
2. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS:
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Đức L 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng màu đen có số IMEI 1: 869014043618280; số IMEI 2: 869014044318286, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động bàn phím nhãn hiệu Nokia, số IMEI 1: 357723107778298; số IMEI 2: 357733100684492.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
Buộc Lê Việt A phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Buộc Nguyễn Đức L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Các bị cáo, bị hại, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ, liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đại diện bị hại, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ, liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được (hoặc niêm yết) bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Duyên |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
|
Lục Viết Sang |
Dương Ngô Phiên |
Nguyễn Thị Duyên |
Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 12/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 41/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Việt Anh trộm cắp tài sản
