|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 02/2024/HS-ST Ngày 11-01-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Quang;
Thẩm phán: Ông Vũ Thế Phương;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Chiến;
Bà Nguyễn Thị Chi;
Bà Trần Thủy Tiên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Phong - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 185/2023/TLST-HS ngày 07 tháng 9 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 201/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2023, đối với:
1. Các bị cáo:
1.1. Đoàn Quang P, sinh năm 1984 tại tỉnh Đồng Nai; số CCCD: [...], cấp ngày 12/8/2021; nơi đăng ký thường trú: Ấp I, xã B huyện L, tỉnh Đồng Nai; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên Chúa; trình độ học vấn: 8/12; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Công nhân; con ông Đoàn Quang C, sinh năm 1949 và bà Nguyễn Thị N, không rõ sinh năm; gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là người thứ sáu, có vợ tên Huỳnh Thị Thu L, sinh năm 1985; có 02 con tên Đoàn Huỳnh N1, sinh năm 2009 và Đoàn Huỳnh Như Ý, sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đầu thú và bị tạm giữ ngày 19/9/2022, chuyển tạm giam theo Lệnh số 395/LTG-CSHS-Đ4 ngày 22/9/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ; hiện nay, bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ.
1.2. Nguyễn Minh N2, sinh ngày 28 tháng 8 năm 1994 tại tỉnh Đồng Nai; số CCCD: [...], cấp ngày 30/6/2022; nơi đăng ký thường trú: Tổ A, Ấp I, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Công nhân; con ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị C1, sinh năm 1972; gia đình có 03 anh em, bị cáo là người thứ nhất, có vợ tên Phan Thị Thanh T, sinh năm 1999; có 01 con tên Nguyễn Nhật Gia H, sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ ngày 13/9/2022, được trả tự do ngày 22/9/2022 theo Quyết định hủy bỏ quyết định gia hạn tạm giữ số 4368/QĐ-VKS-P2 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai; bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh số 4822/LCCT-VKS-P2 ngày 15/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai.
1.3. Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 16 tháng 01 năm 1993 tại tỉnh Đồng Nai; số CCCD: [...], cấp ngày 08/8/2022; nơi đăng ký thường trú: Tổ C, Ấp I, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên Chúa; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lái xe; con ông Nguyễn Văn N3, sinh năm 1954 và bà Phạm Thị Tuyết L1, sinh năm 1964; gia đình có 03 chị em, bị cáo là người thứ ba và chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đầu thú và bị tạm giữ ngày 13/9/2022, được trả tự do ngày 22/9/2022 theo Quyết định hủy bỏ quyết định gia hạn tạm giữ số 4370/QĐ-VKS-P2 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai; bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh số 4825/LCCT-VKS-P2 ngày 15/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
1.4. Nguyễn Minh T1, sinh ngày 12 tháng 12 năm 1995 tại tỉnh Đồng Nai; số CCCD: [...], cấp ngày 30/6/2022; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Tổ A, Ấp I, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên Chúa; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Công nhân; con ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị C1, sinh năm 1972; gia đình có 03 anh em, bị cáo là người thứ hai và chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đầu thú và bị tạm giữ ngày 13/9/2022, được trả tự do ngày 22/9/2022 theo Quyết định hủy bỏ quyết định gia hạn tạm giữ số 4369/QĐ-VKS-P2 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai; bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh số 4828/LCCT-VKS-P2 ngày 15/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai.
1.5. Đỗ Tiến Đ1, sinh ngày 24 tháng 9 năm 1997 tại tỉnh Đồng Nai; số CCCD: [...], cấp ngày 26/5/2022; nơi đăng ký thường trú: Ấp I, xã B huyện L, tỉnh Đồng Nai; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên Chúa; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Công nhân; con ông Đỗ Văn H1, sinh năm 1971 và bà Đinh Thị T2, sinh năm 1969; gia đình có 03 chị em, bị cáo là người thứ hai và chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đầu thú và bị tạm giữ ngày 13/9/2022, được trả tự do ngày 22/9/2022 theo Quyết định hủy bỏ quyết định gia hạn tạm giữ số 4371/QĐ-VKS-P2 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai; bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh số 4831/LCCT-VKS-P2 ngày 15/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai.
2. Người bào chữa cho bị cáo Đoàn Quang P1: Luật sư Hà Mạnh T3 – Luật sư thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ; nơi làm việc: Văn phòng L3; địa chỉ: Số A, đường B, Khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
3. Bị hại: Anh Cao Văn B, sinh năm 1988 (đã chết);
4. Đại diện hợp pháp của bị hại:
1/ Bà Nguyễn Thị T4, sinh năm 1957; địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
2/ Cháu Cao Lầu Quỳnh N4, sinh năm 2013;
Người giám hộ cho cháu N4: Chị Lầu Ngọc Y sinh năm 1992; địa chỉ: Số A, Tổ F, ấp S, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án:
1/ Ông Đoàn Quang P2, sinh năm 1976; địa chỉ: Ấp I, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
6. Người làm chứng:
Bà Lê Thị Hồng V, sinh năm 1979; địa chỉ: Ấp I, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Nội dung chính:
Khoảng 16 giờ ngày 12/9/2022, Đoàn Quang P1 cùng các anh Đoàn Quang P2 (anh P1), Nguyễn Minh N2, cùng thường trú tại Ấp I, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai; Cao Văn B, sinh năm 1988, thường trú tại ấp A, xã B, huyện L và một số người khác (chưa rõ lai lịch) đi uống rượu và hát Karaoke tại quán “Suna” thuộc xã B, huyện L. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày thì anh B và anh P2 xảy ra mâu thuẫn cãi nhau về việc thanh toán tiền hát Karaoke nhưng được mọi người can ngăn nên tất cả ra về. Trên đường về, Pháp và anh B dừng xe lại nói chuyện về việc mâu thuẫn giữa anh B và anh P2, sau đó P1 và B dùng tay, chân đánh nhau một lúc (không gây thương tích) rồi tự giải tán ra về.
Khoảng 20 giờ cùng ngày, anh B lấy 01 con dao dài khoảng 25cm, cán nhựa màu đen đi đến nhà anh P2 tại Ấp I, xã B tìm anh P2 thì gặp chị Lê Thị Hồng V, sinh năm 1979 (vợ anh P2), anh B nói “Anh P2 đâu rồi, chị kêu anh P2 ra, em muốn nói chuyện với anh P2”, chị V nói “anh P2 ngủ rồi, về đi, có gì mai rồi nói”. Lúc này, anh P2 cầm 01 chiếc dép đi đến chỗ B và nói “Đ.M mày giám đến nhà đánh tao hả” rồi lao vào giằng co đánh nhau với anh B từ trong nhà ra tới ngoài sân. Trong lúc đánh nhau, B cầm dao đâm 05 nhát vào nách trái, nách phải, cằm, ngực trái và tay phải của anh P2 gây thương tích 14%. Lúc này, P1 đi về đến nhà thì nhận được điện thoại của một người không rõ lai lịch nói với P1 là anh B đến nhà anh P2 gây sự, nên P1 lấy 01 con dao Thái Lan, dài khoảng 20cm, cán bằng gỗ bỏ vào túi quần rồi đi đến nhà anh P2 nhìn thấy anh B cầm 01 con dao đang giằng co với anh P2, nên P1 xông vào giữ cánh tay cầm dao của anh B thì bị anh B đâm 03 nhát vào bàn tay trái, cẳng chân phải và vùng bẹn bên phải gây thương tích 05%. Pháp liền lấy con dao trong túi quần ra đâm 01 nhát trúng vào vùng sườn - hông bên trái của anh B gây thủng cơ hoành, thủng dạ dày, đứt tụy và mạc treo tràng trên, rách gan mặt dưới. Lúc này, N2 đi đến nhìn thấy anh B và P1 mỗi người cầm 01 con dao đang giằng co với nhau, nên N2 vật anh B ngã xuống nền sân và giật con dao trên tay anh B ném ra chỗ khác rồi lấy 01 sọt nhựa màu đỏ (dùng đựng rác) kích thước phần miệng 25 x 25 x 30cm, kích thước phần đáy 20 x 20 x 30cm đập 02 cái vào vùng đầu - mặt và dùng chân đá vào đùi, vai của anh B gây bầm tím, rách da vùng trán - thái dương - mắt phải; bầm tím, rách da trán - thái dương trái; bầm tím da đỉnh trái; tụ máu dưới da, cơ thái dương phải; tụ máu dưới da, cơ trán - thái dương trái gây thương tích với tỷ lệ thương tật là 05%. Lúc này Nguyễn Minh T1 (em N2), Nguyễn Hải Đ và Đỗ Tiến Đ1 đi đến nhà anh P2 nhìn thấy N2 đang đánh anh B nên cùng nhau xông vào dùng tay, chân đánh anh B (không gây thương tích), anh B đứng dậy bỏ chạy ra ngoài đường thì N2 đuổi theo và nhặt mảnh vỡ của viên gạch 04 lỗ ném anh B nhưng không trúng. Anh B chạy được một đoạn thì té ngã xuống đường. Sau đó anh B, anh P2 và P1 được người dân đưa đến Bệnh viện Đ2 cấp cứu.
Hậu quả anh B tử vong tại Bệnh viện, còn anh P2 bị thương tích với tỷ lệ thương tật 14%; Pháp bị thương tích với tỷ lệ thương tật 05%.
Ngày 22/9/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và ra Lệnh tạm giam đối với Đoàn Quang P1 về tội “Giết người”.
Ngày 18/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ khởi tố bị can đối với Nguyễn Minh N2 về tội “Cố ý gây thương tích”; khởi tố bị can đối với Nguyễn Hải Đ, Đỗ Tiến Đ1 và Nguyễn Minh T1 về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Quá trình điều tra, các bị can Pháp, N2, Đ, Đ1 và T1 đã khai nhận hành vi phạm tội.
Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 13/9/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ xác định hiện trường xảy ra tại nhà anh Đoàn Quang P2 thuộc Ấp I, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai và thu thập các dấu vết như sau:
- Nhà có kết cấu cấp 4, tường gạch, nền lát gạch men, diện tích 20 x 8m.
- Nhà có sân phía trước dài 10,5m, ngang 08m, cổng ở góc Đông Bắc sân nhà, kích thước 2,8 x 2m làm bằng kim loại dạng 02 cánh, giáp cổng trên tại khu vực sân phía Đông có vườn nhỏ trồng cây cảnh diện tích 3 x 2m.
- Tại sân cách tường hướng Bắc 1,5m và cách cổng 3,7m về hướng Tây phát hiện một số dấu vết dạng nhỏ giọt trên diện 50 x 30cm. Cách vết máu nhỏ giọt trên 0,7m về hướng Đ phát hiện một đôi dép màu đen và cách vết máu nhỏ giọt trên 3,5m về hướng Nam và cách cửa nhà 4,4m về hướng Đông phát hiện một số vết máu dạng vũng đã khô trên diện 70 x 50cm.
- Tại vườn cây cảnh phát hiện một số cây bị đổ ngã trên diện 03 x 02m.
- Từ sân nhà chạy dọc theo mép đường ĐT769 về hướng Nam (về hướng thị trấn L) phát hiện một số dấu vết máu dạng nhỏ giọt đến vị trí cách nhà 50m. Tại đây trên mặt đường phát hiện 02 dấu vết máu dạng vũng tại vị trí giữa tim đường và mép đường lần lượt có kích thước 1,7 x 1,2m và 1,3 x 1,2m.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 đôi dép màu đen; 01 con dao bằng kim loại (loại dao Thái Lan) dài khoảng 20cm, cán bằng gỗ dài 10cm, có lưỡi bằng kim loại dài khoảng 10cm; 01 con dao bằng kim loại màu trắng lưỡi nhọn, cán bằng nhựa màu đen dài 25cm, phần cán nhựa dài 11cm, bản rộng 2,5cm, trên thân dao có chữ “Kobun” (thu giữ tại hiện trường); 01 sọt nhựa màu đỏ kích thước phần miệng 25 x 25 x 30cm, kích thước phần đáy 20 x 20 x 30cm (do P2 giao nộp).
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 1947/KL-KTHS ngày 27/9/2022 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh Đ, kết luận anh Cao Văn B có dấu vết thương tích như sau:
- Bầm tím, rách da vùng trán - thái dương - mắt phải. Bầm tím, rách da trán - thái dương trái. Bầm tím da đỉnh trái. Tụ máu dưới da, cơ thái dương phải. Tụ máu dưới da, cơ trán - thái dương trái. Rách da, cơ hông trái hình bầu dục, mép gọn, tụ máu, rãnh thương xuyên vào lồng ngực trái, hướng từ trái sang phải, thủng cơ hoành bên trái, thủng dạ dày, đứt tụy và mạc treo tràng trên, rách gan mặt dưới.
- Nguyên nhân tử vong: Sốc mất máu do vết thương thấu ngực - bụng, thủng cơ hoành, thủng dạ dày, đứt tụy và mạc treo tràng trên, rách gan mặt dưới.
- Hung khí:
- + Vết thương vùng đầu, mặt: vật tày.
- + Vết thương hông trái: Vật sắc nhọn.
- Cơ chế hình thành thương tích: Vết thương vùng đầu mặt chỉ gây tổn thương về da, cơ không dẫn đến tử vong. Nạn nhân bị vật sắc nhọn đâm vào hông trái thấu ngực - bụng gây thủng cơ hoành, thủng dạ dày, đứt tụy và mạc treo tràng trên, rách gan mặt dưới, sốc mất máu và tử vong.
Tại Công văn số 179/PC-09 ngày 01/6/2023 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh Đ, xác định: 03 vết rách da cơ mu bàn tay phải, mép gọn, tụ máu kích thước lần lượt trên xuống dưới 06cm x 0,2cm; 05cm x 0,2cm; 09cm x 0,6cm là do vật sắc gây ra trong quá trình giằng co giữa nạn nhân và đối tượng (nạn nhân đưa tay trái lên đỡ).
Tại Công văn số 217/PC09 ngày 22/6/2023 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh Đ, xác định:
- Vết bầm tím, rách da vùng trán - thái dương - mắt phải diện 12cm x 10cm, gồm:
- + Rách da vùng trán cách gốc lông mày 02cm, kích thước 02cm x 0,5cm do vật tày có cạnh gây ra
- + Rách da dưới đuôi mắt phải 1,5cm, kích thước 03cm x 0,5cm do vật tày có cạnh gây ra
- + Bầm tím da vùng trán - thái dương - mắt phải diện 12cm x 10cm do vật tày gây ra
- Vết bầm tím, rách da trán - thái dương trái 08cm x 07cm, gồm:
- + Rách da trán trái cách lông mày 07cm, kích thước 01cm x 0,7cm do vật tày có cạnh gây ra
- + Bầm tím da trán - thái dương trái 08cm x 07cm do vật tày gây ra.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể qua hồ sơ số 0483/KLTgTHS-TTPYĐN ngày 22/6/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ, kết luận:
- Vết bầm tím, rách da vùng trán - thái dương - mắt phải diện 12cm x 10cm, gồm:
- + Rách da vùng trán cách gốc lông mày 02cm, kích thước 02cm x 0,5cm. Tỷ lệ: 01%.
- + Rách da dưới đuôi mắt phải 1,5cm, kích thước 03cm x 0,5cm. Tỷ lệ: 02%.
- + Bầm tím da vùng trán - thái dương - mắt phải diện 12cm x 10cm.
- Vết bầm tím, rách da trán - thái dương trái 08cm x 07cm, gồm:
- + Rách da trán trái cách lông mày 07cm, kích thước 01cm x 0,7cm. Tỷ lệ: 02%.
- + Bầm tím da trán - thái dương trái 08cm x 07cm.
- Bầm tím da đỉnh trái 08cm x 07cm trên vành tai trên tai trái 08cm.
- Bầm tím da nách phải 03cm x 02cm.
- Xây sát da dưới vú trái 06cm x 05cm cách vú 04cm.
Kết luận:
- Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định qua hồ sơ của nạn nhân Cao Văn B, sinh năm 1988 là 05%.
- Không định tỷ lệ tổn thương cơ thể cho tổn thương: Bầm tím da vùng trán - thái dương - mắt phải diện 12cm x 10cm; Bầm tím da trán - thái dương trái 08cm x 07cm; Bầm tím da đỉnh trái 08cm x 07cm trên vành tai trên tai trái; Bầm tím da nách phải 03cm x 02cm; Xây sát da dưới vú trái 06cm x 05cm cách vú 04cm.
Tại Bản kết luận giám định vật gây thương tích số 0484/KLVGTT-TTPYĐN ngày 23/6/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ, kết luận:
- Phần bên ngoài đáy sọt và phần đáy có trụ nhô lên của sọt có thể gây thương tích vùng đầu mặt gồm: Bầm tím, rách da trán - thái dương - mắt phải diện 12cm x 10cm và bầm tím, rách da trán - thái dương trái 08cm x 07cm.
- Sọt nhựa có khả năng gây thương tích cho con người.
Tại Bản kết luận giám định vật gây thương tích số 00097/Tgt/2023 ngày 21/02/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ, kết luận anh Đoàn Quang P2 bị thương tích như sau:
- + Sẹo vùng cằm trái, kích thước: 06x0,2cm. Tỷ lệ: 06%;
- + Sẹo vùng nách trái không liên tục dài 16,5cm rộng nhất 0,8cm và hẹp nhất 0,5cm. Tỷ lệ: 03%;
- + Sẹo ngực trái, kích thước: 14x0,3cm. Tỷ lệ: 02%;
- + Sẹo vùng nách phải, kích thước: 11x0,3cm. Tỷ lệ: 02%;
- + Sẹo 1/3 dưới mặt trước cánh tay phải, kích thước: 11x0,3cm. Tỷ lệ: 02%;
Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Đoàn Quang P2, sinh năm 1976 là: 14%.
Vật gây thương tích: vật sắc.
Tại Bản kết luận giám định vật gây thương tích số 00096/Tgt/2023 ngày 21/02/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ, kết luận Đoàn Quang P1 bị thương tích như sau:
- + Sẹo kẻ ngón 1-2 bàn tay trái, kích thước: 6,7x0,2cm. Tỷ lệ: 02%;
- + Sẹo mặt trong đùi phải, kích thước: 2,2x0,2cm. Tỷ lệ: 01%;
- + Sẹo mặt trước trong cẳng chân phải, kích thước: 06x0,3cm. Tỷ lệ: 02%;
- + Sẹo mặt trước gối trái, kích thước: 1,5x1,2cm. Tỷ lệ: 02%;
Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Đoàn Quang P, sinh năm: 1984 là: 07%;
- + Thương tích bàn tay trái, đùi phải, cẳng chân phải: vật sắc.
- + Thương tích gối trái: vật tày.
Tại Công văn số 513/TTPY/2023 ngày 08/9/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ, xác định:
- - Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Đoàn Quang P1 do vật sắc gây nên là 05%.
- - Tỷ lệ tổn thương còn lại: sẹo mặt trước gối trái là 02%.
Tại Kết luận giám định số 3224/KL-KTHS ngày 07/6/2023 của Phân viện KHHS tại Thành phố Hồ Chí Minh (C09B) - Bộ C2, kết luận:
- Trên con dao thái lan dài khoảng 20cm, cán gỗ thu tại hiện trường (con dao bị can Pháp sử dụng) gửi giám định có nguồn ADN người, của 02 nam giới. Một kiểu gen trùng với kiểu gen của Đoàn Quang P, kiểu gen còn lại trùng với kiểu gen của Cao Văn B.
- Trên con dao dài khoảng 25cm, cán nhựa màu đen thu tại hiện trường (con dao bị hại B sử dụng) gửi giám định có nguồn ADN người, của 02 nam giới. Một kiểu gen trùng với kiểu gen của Đoàn Quang P, kiểu gen còn lại trùng với kiểu gen của Đoàn Quang P2.
Tại Biên bản làm việc ngày 23/9/2022, Ủy ban nhân dân và Công an xã B, huyện L xác định vụ án nêu trên gây mất an ninh trật tự tại địa phương, gây hoang mang trong dư luận, thể hiện thái độ coi thường pháp luật, nên đề nghị xử lý về hành vi “Gây rối trật tự công cộng” nhằm mục đích răng đe, giáo dục.
Về trách nhiệm dân sự và biện pháp tư pháp:
Đại diện hợp pháp nạn nhân Cao Văn B là bà Nguyễn Thị T4 yêu cầu bồi thường viện phí, chi phí mai táng và cấp dưỡng nuôi con của nạn nhân B là cháu Cao Lầu Quỳnh N4, sinh ngày 05/11/2013 đến tuổi trưởng thành với tổng số tiền là 705.000.000₫ (Bảy trăm linh năm triệu đồng), đồng thời yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra, Gia đình của bị can Pháp đã bồi thường 130.000.000đ (một trăm ba mươi triệu đồng).
Đối với thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể 05% do Nguyễn Minh N2 dùng sọt nhựa đánh gây ra, bà T4 không yêu cầu bồi thường.
2. Cáo trạng và trình bày của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Cáo trạng số: 239/CT-VKS-P2 ngày 31 tháng 10 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai, đã quyết định truy tố bị cáo Đoàn Quang P1 về tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Minh N2 về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 1 Điều 104 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Nguyễn Hải Đ, Đỗ Tiến Đ1 và Nguyễn Minh T1 về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị tuyên bố các bị cáo phạm tội như cáo trạng đã truy tố; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt:
- Xử phạt bị cáo Đoàn Quang P1 từ 11 đến 13 năm tù.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh N2 mức án từ 12 đến 14 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
- Xử phạt các bị cáo Nguyễn Hải Đ, Đỗ Tiến Đ1 và Nguyễn Minh T1 mỗi bị cáo từ 10 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy các vật chứng đã Cơ quan điều tra đã chuyển giao cho Cục Thi hành án hình sự theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06 tháng 11 năm 2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải có trách nhiệm tiếp tục bồi thường cho bị hại số tiề 270.000.000 đồng và có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con của bị hại.
Ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của các bị cáo Nguyễn Hải Đ, Đỗ Tiến Đ1 và Nguyễn Minh T1, mỗi bị cáo bồi thường số tiền 20.000.000 đồng cho bị hại.
3. Trình bày của bị cáo và người tham gia tố tụng tại phiên tòa:
- Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
- Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường trách nhiệm dân sự và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; xét xử các bị cáo mức án thấp hơn đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
4. Người bào chữa cho bị cáo Bùi Thế P3 trình bày:
Về tội danh: Bị cáo P1 phạm tội trong trường hợp vượt quá phòng vệ chính đáng, nếu không thì chỉ phạm tội giết người ở khoản 2 Điều 123 của Bộ luật Hình sự bởi: Khi bị cáo đến can ngăn, bị hại đã có hành vi dùng dao tấn công, đâm 03 nhát vào người bị cáo, trong tình thế đó, bị cáo dùng dao tấn công lại và chỉ đâm 01 nhát, hành vi không mang tính quyết liệt. do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 298 của Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử bị cáo về tội danh nhẹ hơn hoặc khoản nhẹ hơn so với tội danh mà Viện kiểm sát truy tố.
Về hình phạt: Qua diễn biến tại phiên tòa, bị cáo và bị hại đã thống nhất được việc bồi thường trách nhiệm dân sự. Bị hại đề nghị giảm nhẹ dưới mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị; do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự; các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ.
[2] Về tội danh bị truy tố:
Căn cứ vào lời khai của các bị cáo và kết quả tranh tụng tại phiên tòa xác định được như sau:
2.1. Đối với bị cáo P1:
Bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn; tuy nhiên, khi nghe tin bị hại cầm dao đến nhà anh trai mình để đánh nhau bị cáo đã chuẩn bị dao mang theo đến nhà anh P2. Tại đây, giữa bị cáo và bị hại đã xảy ra giằng co, đánh nhau; khi bị bị hại đâm 03 nhát vào chân, bị cáo đã rút dao đâm 01 nhát vào người của bị hại (vùng hông sườn) gây vết thương hông trái thấu ngực - bụng gây thủng cơ hoành, thủng dạ dày, đứt tụy và mạc treo tràng trên, rách gan mặt dưới, sốc mất máu và dẫn đến bị hại tử vong. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự.
2.3. Đối với bị cáo N2:
Bị cáo có hành vi dùng sọt rác đánh bạc đầu gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ thương tật 05%, hành vi của bị cáo không cấu thành tội giết người với vai trò đồng phạm với bị cáo P1 bởi vì: Bị cáo và pháp không bàn bạc với nhau, pháp không rủ rê, lôi kéo bị cáo đến để thực hiện hành vi; bị cáo nghe tiếng la hét nên chạy qua xem và thấy giữa các bên đã đánh nhau nên chạy vào sau và dùng sọt nhựa đựng rác đánh bị hại, nguyên nhân tử vong của anh B được xác định là do vết thương của Đoàn Văn P4 gây ra. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 1 Điều 104 của Bộ luật Hình sự.
2.4. Đối với các bị cáo Nguyễn Hải Đ, Đỗ Tiến Đ1 và Nguyễn Minh T1:
Các bị cáo nghe đánh nhau thì chạy qua nhà P2, các bị cáo có hành vi dùng tay, chân đánh bị hại nhưng không gây thương tích; hành vi của các bị cáo không phạm tội “Giết người” với vai trò đồng phạm với bị cáo P4 bởi các bị cáo không bàn bạc với bị cáo P4, không biết việc P4 mang dao và đâm bị hại, các bị cáo là người đến sau khi P4 đã thực hiện hành vi phạm tội; các bị cáo cũng không đồng phạm về tội “Cố ý gây thương tích” đối với bị cáo N2 bởi các bị cáo không bàn bạc với N2, khi các bị cáo đến đã có Pháp, và N2 tại hiện trường; các bị cáo không gây thương tích cho bị hại. Tuy nhiên, các bị cáo đã có hành vi đuổi đánh nhau, dùng gạch ném về phía bị hại gây náo loạn, làm mất an ninh trật tự tại nơi cư trú nên hành vi của các bị cáo cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 1 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.
Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Về trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo P4 đã bồi thường thiệt hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo đầu thú; bị hại có một phần lỗi, gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ định tại điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về hình phạt:
- + Đối với bị cáo P4: Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến tính mạng của con người được pháp luật bảo vệ; do đó, cần xử phạt bị cáo hình phạt tù, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian, tương xứng với hành vi phạm tội, để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm; tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cũng xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo; bị hại có một phần lỗi, đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin bãi nại giảm nhẹ hình phạt để quyết định; đồng thời tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.
- + Đối với các bị cáo N2, Đ, Đ1 và T1 :
- Các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo trách nhiệm hình sự theo khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; có nơi cư trú rõ ràng và hiện đang có công việc ổn định; do đó, áp dụng hình phạt tù nhưng áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt tù nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách cũng đủ răn đe, giáo dục đối với các bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm.
[4] Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên tòa, bị cáo pháp và đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận được với nhau về toàn bộ số tiền bồi thường nên ghi nhận, cụ thể: Bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại tổng số tiền là 400.000.000 đồng, bị cáo đã bồi thường được số tiền 130.000.000 đồng, số tiền còn lại bị cáo phải tiếp tục bồi thường là 270.000.000 đồng.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Theo hướng dẫn tại Điều 591 của Bộ luật Dân sự và Nghị quyết số: 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06-9-2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về xác định mức cấp dưỡng hàng tháng “...Không thấp hơn 01 tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người được cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng”. Tuy nhiên, xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, hiện đang bị tạm giam và phải có nghĩa vụ bồi thường trách nhiệm dân sự cho bị hại; ngoài ra, bị cáo P4 còn có 02 con nhỏ có đang trong độ tuổi ăn học (con tên Đoàn Huỳnh N1, sinh năm 2009 và Đoàn Huỳnh Như Ý, sinh năm 2012) nên Hội đồng xét xử quyết định mức cấp dưỡng mỗi tháng là 2.500.000 đồng, thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ ngày xét xử sơ thẩm (11-01-2024) cho đến khi cháu Cao L2 Quỳnh Như đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Trường hợp, nếu mức cấp dưỡng không phù hợp với hình hình thực tế thì người được cấp dưỡng có quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng.
Đối với các bị cáo: Nguyễn Minh N2, Nguyễn Hải Đ, Đỗ Tiến Đ1 và Nguyễn Minh T1 mỗi bị cáo tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 20.000.000 đồng. Xét thấy, đây là sự tự nguyện của các bị cáo, không trái quy định pháp luật, phù hợp với đạo đức xã hội nên ghi nhận sự tự nguyện trên.
[5] Xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy: 01 đôi dép màu đen; 01 con dao bằng kim loại (loại dao Thái Lan) dài khoảng 20cm, cán bằng gỗ dài 10cm, có lưỡi bằng kim loại dài khoảng 10cm; 01 con dao bằng kim loại màu trắng lưỡi nhọn, cán bằng nhựa màu đen dài 25cm, phần cán nhựa dài 11cm, bản rộng 2,5cm, trên thân dao có chữ “Kobun” (thu giữ tại hiện trường); 01 sọt nhựa màu đỏ kích thước phần miệng 25 x 25 x 30cm, kích thước phần đáy 20 x 20 x 30cm (do P2 giao nộp).
Vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06 tháng 11 năm 2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai.
[6] Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo P4 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
[7] Nhận định về phần trình bày của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa và người tham gia tố tụng tại phiên tòa:
Trình bày của bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người bào chữa và Kiểm sát viên tại phiên tòa cơ bản phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận phần phù hợp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 106, 136, 329, 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Đoàn Quang P1 phạm tội “Giết người”; bị cáo Nguyễn Minh N2 phạm tội “Cố ý gây thương tích”; các bị cáo Nguyễn Hải Đ, Đỗ Tiến Đ1 và Nguyễn Minh T1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
2. Về hình phạt:
- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Xử phạt bị cáo Đoàn Quang P1 13 (mười ba) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 19 tháng 9 năm 2022.
- Áp dụng khoản 1 Điều 134, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018, Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15-4-2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh N2 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 04 (bốn) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018, Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15-4-2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Hải Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Xử phạt bị cáo Đỗ Tiến Đ1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Minh N2, Nguyễn Hải Đ, Đỗ Tiến Đ1, Nguyễn Minh T1 cho UBND xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Việc vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú của người được hưởng án treo thì được thực hiện theo Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
3. Biện pháp ngăn chặn:
Tiếp tục tạm giam bị cáo Đoàn Q Pháp theo quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử, để bảo đảm thi hành án.
4. Xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy: 01 đôi dép màu đen; 01 con dao bằng kim loại (loại dao Thái Lan) dài khoảng 20cm, cán bằng gỗ dài 10cm, có lưỡi bằng kim loại dài khoảng 10cm; 01 con dao bằng kim loại màu trắng lưỡi nhọn, cán bằng nhựa màu đen dài 25cm, phần cán nhựa dài 11cm, bản rộng 2,5cm, trên thân dao có chữ “Kobun” (thu giữ tại hiện trường); 01 sọt nhựa màu đỏ kích thước phần miệng 25 x 25 x 30cm, kích thước phần đáy 20 x 20 x 30cm (do P2 giao nộp).
Vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06 tháng 11 năm 2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai.
5. Về trách nhiệm dân sự:
Áp dụng Điều 591, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06-9-2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Buộc bị cáo Đoàn Quang P1 phải có nghĩa vụ bồi thường tiếp số tiền 270.000.000 đồng (hai trăm bảy mươi triệu đồng) cho đại diện hợp pháp của bị hại. Các bị cáo Nguyễn Minh N2, Nguyễn Hải Đ, Đỗ Tiến Đ1, Nguyễn Minh T1 mỗi bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) cho đại diện hợp pháp của bị hại.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Buộc bị cáo Đoàn Quang P1 phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Cao L2 Quỳnh Như mỗi tháng số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm ngàn đồng), thời gian cấp dưỡng từ ngày 11 tháng 01 năm 2024 cho đến khi cháu N1 đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Trường hợp cần thiết, các bên có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
Bà Nguyễn Thị T4, sinh năm 1957; địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai là người đại diện hợp pháp của bị hại và cháu N1 được quyền yêu cầu thi hành án và nhận các khoản tiền bồi thường trách nhiệm dân sự, cấp dưỡng cho cháu N1.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Về án phí:
Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc các bị cáo Đoàn Quang P, Nguyễn Minh N2, Nguyễn Hải Đ, Đỗ Tiến Đ1 và Nguyễn Minh T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Đoàn Quang P1 phải chịu 1.350.000 đồng (mười ba triệu năm trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch và 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí cấp dưỡng.
6. Quyền kháng cáo:
Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Quang |
Bản án số 02/2024/HS-ST ngày 11/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự
- Số bản án: 02/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Đoàn Quang Pháp phạm tội giết người
