|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 02/2024/HNGĐ-ST Ngày 11 - 01 - 2024 “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ - TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quýnh;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thanh Thủy và Ông Lại Văn Bảo;
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tham gia phiên tòa:
Bà Phạm Thu Huyền – Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 01 năm 2024, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 79/2023/TLST – HNGĐ ngày 04/10/2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2023/QĐXXST – HNGĐ ngày 11/12/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 30/2023/QÐST-HNGĐ ngày 26/12/2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: chị Phạm Thị T, sinh năm: 1985; đăng ký thường trú tại: tổ G, khu C, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.
Bị đơn: anh Phạm Văn Q, sinh năm: 1985; đăng ký thường trú tại: tổ G, khu C, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện gửi đến Toà án ngày 25/9/2023, lời tự khai và tại đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, nguyên đơn chị Phạm Thị T đều trình bày: chị và anh Phạm Văn Q kết hôn vào năm 2008 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn hợp pháp tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện V. Trước khi kết hôn anh chị có thời gian hiểu nhau 05 năm, sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng chị về sống cùng gia đình nhà chồng tại thôn Đ, xã Đ, huyện V sau đó 2 năm thì vợ chồng chuyển đến nhà riêng ở tại tổ G, khu C, phường C, thành phố C. Cuộc sống chung của vợ chồng chị sau kết hôn hoà thuận, bình thường cho đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do cuộc sống khó khăn về kinh tế nên thường xuyên cãi vã, xúc phạm nhau; anh Q ghen tuông, nghi ngờ không có căn cứ, thường xuyên chửi bới, xúc phạm và đánh chị, bản thân chị thấy không có lỗi với anh Q. Đỉnh điểm của mâu thuẫn là từ tháng 4/2022 vợ chồng xảy ra xô xát cùng với việc kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn, anh Q hay chửi bới nên chị không ở nhà nữa mà đi làm ăn bên ngoài, anh chị sống ly thân từ đó, mỗi người ở một nơi, chị đi làm thuê nên chỗ ở không cố định. Quá trình sống ly thân anh chị cũng tìm biện pháp khắc phục mâu thuẫn nhưng chỉ được một thời gian ngắn, anh Q cũng bảo chị quay về nhưng chị xét thấy tình cảm dành cho anh Q không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Q để ổn định cuộc sống.
+ Về con chung: chị và anh Phạm Văn Q có 02 con chung là Phạm Đức L, sinh ngày 15/02/2009 và Phạm Trúc L1, sinh ngày 08/8/2011, trong thời gian chung sống với anh Q về kinh tế, chăm sóc nuôi dưỡng 02 con đều do chị gánh vác, anh Q không có việc làm ổn định, không có thu nhập. Từ khi sống ly thân chị đưa con lớn về quê học để đi làm kiếm tiền nuôi con, con thứ 2 vẫn ở với anh Q. Quan điểm của chị khi vợ chồng ly hôn, chị cũng đã hỏi nguyện vọng của các con và để các con được viết bản trình bày nộp tại Tòa án, cả hai cháu đều có nguyện vọng ở cùng với mẹ nên chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con, chị không yêu cầu anh Q cấp dưỡng vì anh Q không có việc làm ổn định. Hiện chị đang làm Spa và kinh doanh thực phẩm chức năng, thu nhập bình quân khoảng 20 triệu đồng/tháng cũng đảm bảo nuôi dưỡng các con chung.
+ Về tài sản chung: chị và anh Q sẽ tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Công nợ chung không có.
* Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn - anh Phạm Văn Q nhiều lần nhưng anh Q cố tình vắng mặt nên không lấy được lời khai của anh Q, anh Q không có quan điểm gì về quan hệ hôn nhân, con chung cũng như tài sản và công nợ chung.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả có ý kiến cho rằng Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quan hệ tranh chấp và áp dụng các quy định của pháp luật giải quyết vụ án chính xác. Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét tại phiên tòa, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả đề nghị chấp nhận đơn khởi kiện của chị Phạm Thị T, chị T được ly hôn với anh Phạm Văn Q; về con chung: giao 02 con chung cho chị T được trực tiếp nuôi dưỡng, anh Q không phải cấp dưỡng cho con chung; tài sản và công nợ chung không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Phạm Thị T yêu cầu xin ly hôn với anh Phạm Văn Q hiện cư trú tại địa bàn thành phố C nên Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả thụ lý giải quyết với quan hệ pháp luật “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” là đúng quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
* Về quan hệ hôn nhân: cuộc hôn nhân giữa chị Phạm Thị T và anh Phạm Văn Q là hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện V vào năm 2008. Sau kết hôn, thời gian đầu anh chị về sống cùng gia đình nhà nội ở thôn Đ, xã Đ, huyện V nhưng sau đó chuyển đến nhà riêng ở tại tổ G, khu C, phường C, thành phố C. Cuộc sống chung của anh chị theo chị T trình bày thì bình thường từ sau khi kết hôn cho đến năm 2021 mới phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn nên hay cãi nhau, sau đó anh Q nghi ngờ, ghen tuông vô cớ nên đã xúc phạm và đánh chị T, tình trạng này kéo dài cho đến tháng 4/2022, vợ chồng xảy ra xô xát nên anh chị quyết định sống ly thân nhau mỗi người ở một nơi, anh chị cũng tìm biện pháp khắc phục mâu thuẫn nhưng cũng chỉ được một thời gian ngắn nên chị T không quay về chung sống với anh Q nữa. Tại đơn xin xử án vắng mặt, chị T vẫn giữ quan điểm xin ly hôn với anh Q chị khẳng định mâu thuẫn của anh chị không thể hàn gắn được, tình cảm vợ chồng không còn. Lời khai của chị T về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn cơ bản phù hợp với kết quả thu thập chứng cứ về tình trạng hôn nhân của anh chị tại nơi cư trú, đại diện khu phố khẳng định “chị T và anh Q ly thân hơn 1 năm trở lại đây, vợ chồng có xảy ra xô xát đánh nhau ..............có lẽ do kinh tế khó khăn, vợ chồng không có sự cảm thông, chia sẻ với nhau về kinh tế dẫn đến mâu thuẫn....”; bản thân anh Q khi được triệu tập hợp lệ nhưng cũng không đến Toà án để tham gia tố tụng, chứng tỏ anh Q cũng không thiện chí hoặc trách nhiệm trong việc giải quyết mâu thuẫn, không có biện pháp tích cực để vợ chồng về đoàn tụ. Do vậy Hội đồng xét xử xác định mâu thuẫn của chị T và anh Q đã trầm trọng, kéo dài từ năm 2021 đến nay không tìm được biện pháp hàn gắn nên chị T xin ly hôn anh Q là có căn cứ.
Căn cứ quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh Q đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh Q.
+ Về con chung: chị Phạm Thị T và anh Phạm Văn Q có 02 con chung là Phạm Đức L, sinh ngày 15/02/2009 và Phạm Trúc L1, sinh ngày 08/8/2011, quá trình giải quyết vụ án và tại đơn xin vắng mặt tại phiên tòa chị Phạm Thị T đều giữ quan điểm muốn được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung, mong muốn của chị T cũng phù hợp với nguyện vọng của các con chung của anh chị là đều muốn được mẹ nuôi dưỡng; anh Q không đến Tòa án để tham gia tố tụng, không có quan điểm gì về việc nuôi dưỡng con chung nên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết giao cả hai con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng khi giải quyết cho chị T được ly hôn. Về việc cấp dưỡng cho con chung, trong quá trình giải quyết vụ án và đơn xin xử án vắng mặt chị T đều không yêu cầu anh Q cấp dưỡng cho con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
+ Về tài sản chung chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, công nợ chung không có.
[3] Về án phí: chị Phạm Thị T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, các điều 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Phạm Thị T với anh Phạm Văn Q.
- Về con chung: giao cả 02 con chung là Phạm Đức L, sinh ngày 15/02/2009 và Phạm Trúc L1, sinh ngày 08/8/2011 cho chị Phạm Thị T có quyền, nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Phạm Văn Q không phải cấp dưỡng cho con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom các con mà không ai được cản trở.
- Về án phí: chị Phạm Thị T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp ngày 02/10/2023 theo biên lai số: 0005435 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả.
Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt nguyên đơn và bị đơn. Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Quýnh |
Bản án số 02/2024/HNGĐ-ST ngày 11/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ - TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 02/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/01/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ - TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Phạm Thị Thu với anh Phạm Văn Quân. 2. Về con chung: giao cả 02 con chung là Phạm Đức Lộc, sinh ngày 15/02/2009 và Phạm Trúc Linh, sinh ngày 08/8/2011 cho chị Phạm Thị Thu có quyền, nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Phạm Văn Quân không phải cấp dưỡng cho con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom các con mà không ai được cản trở.
