Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2024/HS-ST

Ngày 11-01-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán: Bà Lê Na .

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đàm Văn Lý

Bà Nông Thị Vân

- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Biển, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Đàm Đình Phương, Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 188/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 904/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Minh T

Tên gọi khác: Không có;

Sinh ngày: 20/7/1973, tại: thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Nơi thường trú: Số 20, tầng A, tòa T T M, phường V, Quận H, thành phố Hà Nội; Nơi ở: Tổ I, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Nghề nghiệp: Giám đốc Công ty TNHH X; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Tiến L (đã chết) và bà: Trần Thị C, sinh năm 1950, nghề nghiệp: Hưu trí, trú tại: Tổ A, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Có vợ: Hoàng Thị Hồng Á, sinh năm 1974, nghề nghiệp: Cán bộ, trú tại: Tổ I, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng và 02 con. Tiền án, tiền sự: Không có. Trước khi phạm tội bị cáo là Đảng viên Đ, bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định số 77-QĐ/UBKTU ngày 25/10/2023 của Ủy Ban kiểm tra Thành ủy C1; Bị cáo bị bắt tạm giam trong vụ án khác từ ngày 25/8/2023 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh C. Có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Cục Thuế tỉnh C

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Việt L1 – Cục trưởng. Vắng mặt.

2. Bế Thị Mai H, sinh năm 1973.

Trú tại: Tổ F, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 28/7/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C nhận được Quyết định số 515/QĐ-CTCBA ngày 28/7/2023 của Cục Thuế tỉnh C về việc Công ty TNHH X có trụ sở tại số nhà A - B ngõ A, tổ F, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng có dấu hiệu tội phạm về thuế và các tài liệu liên quan đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C để xem xét xử lý theo quy định.

Ngày 15/8/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C Quyết định trưng cầu Cục thuế tỉnh C giám định thiệt hại về thuế của Công ty TNHH X. Tại bản Kết luận giám định số 01/GĐV – CTCBA ngày 28/8/2023 của Cục Thuế tỉnh C, xác định: Công ty TNHH X đã không kê khai, kê khai thiếu doanh thu dẫn đến thiếu số tiền thuế giá trị gia tăng phải nộp Ngân sách Nhà nước năm 2020 với số tiền là 780.961.182 đồng. Cụ thể như sau:

  1. Công trình thi công xây dựng đường nội đồng xóm Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Cao Bằng kê khai thiếu doanh thu là 256.733.636 đồng.
  2. Công trình thi công cải tạo, sửa chữa trường THCS N, huyện H, tỉnh Cao Bằng kê khai thiếu doanh thu là 18.291.818 đồng.
  3. Công trình thi công xây dựng trường mầm non xã Đ, huyện H, tỉnh Cao Bằng kê thiếu doanh thu là 1.854.780.909 đồng.
  4. Công trình thi công xây dựng trường mầm non xã H, huyện B, tỉnh Cao Bằng kê thiếu doanh thu là 2.134.268.182 đồng.
  5. Công trình trạm hạ thế cấp điện cho xóm K, xã K, huyện T, tỉnh Cao Bằng kê thiếu doanh thu là 762.706.364 đồng.
  6. Công trình cấp điện sinh hoạt xóm N, xã P, huyện N, tỉnh Cao Bằng, kê thiếu doanh thu là 3.237.464.546 đồng.

Quá trình điều tra, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội và xác định được:

Công ty TNHH X được Sở Kế hoạch đầu tư tỉnh C giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp vào năm 2004, ngành nghề kinh doanh chính là: Xây dựng công trình kỹ thuật dân dụng khác, người đại diện theo pháp luật là Nguyễn Minh T - Giám đốc công ty; kế toán công ty là Bế Thị Mai H. Sau khi được cấp giấy chứng nhận T trúng thầu và thực hiện nhiều công trình xây dựng trên địa bàn tỉnh Cao Bằng. Đến năm 2020 do quản lý tài chính không hiệu quả nên T không kê khai và kê khai thiếu doanh thu dẫn đến thiếu tiền thuế giá trị gia tăng 06 công trình xây dựng cụ thể như sau:

  • - Công trình thi công xây dựng đường nội đồng xóm Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Cao Bằng nghiệm thu vào ngày 17/3/2020, kê khai thiếu doanh thu là 256.733.636 đồng.
  • - Công trình thi công cải tạo, sửa chữa trường THCS N, huyện H, tỉnh Cao Bằng nghiệm thu vào ngày 18/7/2020, kê khai thiếu doanh thu là 18.291.818 đồng.
  • - Công trình thi công xây dựng trường mầm non xã Đ, huyện H, tỉnh Cao Bằng, nghiệm thu vào ngày 18/7/2020, kê thiếu doanh thu là 1.854.780.909 đồng.
  • - Công trình thi công xây dựng trường mầm non xã H, huyện B, tỉnh Cao Bằng, nghiệm thu vào ngày 31/12/2020, kê thiếu doanh thu là 2.134.268.182 đồng.
  • - Công trình trạm hạ thế cấp điện cho xóm K, xã K, huyện T, tỉnh Cao Bằng, nghiệm thu vào ngày 09/11/2020, kê thiếu doanh thu là 762.706.364 đồng.
  • - Công trình cấp điện sinh hoạt xóm N, xã P, huyện N, tỉnh Cao Bằng, nghiệm thu ngày 11/10/2020, kê thiếu doanh thu là 3.237.464.546 đồng.

Tại bản kết luận Giám định số 01/GĐV-CTCBA ngày 28/8/2023 của Cục thuế tỉnh C đã kết luận “Công ty TNHH X đã không kê khai, kê khai thiếu doanh thu dẫn đến thiếu số tiền thuế giá trị gia tăng phải nộp Ngân sách nhà nước năm 2020 với số tiền là 780.961.182 đồng”.

Hành vi của bị cáo đã bị Cơ quan cảnh sát điều tra lập hồ sơ đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Trốn thuế quy định tại khoản 2 Điều 200 BLHS Bộ luật hình sự.

Tại bản Cáo trạng số 134/CT-VKSCB-P1 ngày 27/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh T về tội Trốn thuế quy định tại khoản 2 Điều 200 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu ở trên và thừa nhận bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhận dân tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo là đúng với các hành vi đã thực hiện.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Cục Thuế tỉnh C có đơn xin xét xử vắng mặt và yêu cầu bị cáo nộp lại số tiền trốn thuế vào ngân sách nhà nước.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Bế Thị Mai H có đơn xin xét xử vắng mặt và cho rằng bị cáo T không cung cấp chứng từ cho H để kê khai thuế và H không biết thời điểm T hoàn thành các công trình xây dựng.

Kết thúc việc hỏi tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội: Vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Minh T về tội: Trốn thuế quy định tại khoản 2 Điều 200 Bộ luật hình sự. Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân

và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T về tội: “Trốn thuế”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm b, d khoản 2 Điều 200; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh T từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải nộp số tiền trốn thuế là 780.961.182 đồng vào ngân sách nhà nước (xác nhận bị cáo đã nộp số tiền 50.000.000 đồng để khắc phục hậu quả).

Về xử lý vật chứng vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị:

Số tiền 50.000.000 đồng đã nộp được bù trừ vào phần nghĩa vụ của bị cáo phải thực hiện.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến và không có tranh luận với Kiểm sát viên.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến, hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ để kết luận:

Năm 2004 bị cáo Nguyễn Minh T được Sở Kế hoạch đầu tư tỉnh C giấy chứng nhận Công ty TNHH X và giữ chức vụ Giám đốc công ty, mã số thuế 480.011.8110 đăng ký tại Cục thuế tỉnh C. Trong năm 2020 bị cáo không kê khai thuế giá trị gia tăng 01 công trình xây dựng đã được nghiệm thu, kê khai thiếu thuế giá trị gia tăng 05 công trình xây dựng đã được nghiệm thu, trong đó có 03 công trình bị cáo không kê khai và kê khai thiếu thuế giá trị gia tăng với số tiền trên 100.000.000 đồng. Tổng số 06 công trình xây dựng bị cáo không kê

khai và kê khai thiếu doanh thu dẫn đến thiếu số tiền thuế giá trị gia tăng phải nộp ngân sách nhà nước là 780.961.182 đồng.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, chính sách, quy định của Nhà nước về quản lý các loại thuế, xâm phạm tới lợi ích Nhà nước trong hoạt động thu thuế nộp ngân sách cho Nhà nước. Bị cáo biết lẽ ra phải nộp khoản tiền thuế nhưng vẫn cố ý không kê khai và kê khai thiếu nhằm trốn tránh nghĩa vụ, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do vậy, việc đưa bị cáo ra truy tố, xét xử trước pháp luật là cần thiết, nhằm mục đích răn đe giáo dục riêng đối với bị cáo và phục vụ công tác đấu tranh chống tội phạm, phòng ngừa chung cho xã hội.

[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không kê khai, kê khai thiếu doanh thu đối với các công trình, đây là tình tiết định khung nên không được coi là tình tiết tăng nặng theo Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; ngoài ra, bị cáo tác động gia đình nộp số tiền 50.000.000 đồng tự nguyện khắc phục một phần hậu quả, nhiều năm liền bị cáo được khen thưởng, bác ruột bị cáo là Liệt sĩ. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt chính:

Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả do hành vi phạm tội; vai trò, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn mới đủ sức răn đe và nghiêm khắc đối với hành vi của bị cáo. Xét mức hình phạt do Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ chấp nhận.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 200 bị cáo có thể bị phạt bổ sung, qua đánh giá điều kiện, hoàn cảnh của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Cục thuế tỉnh Cao Bằng là đơn vị được giao quyền tổ chức thực hiện công tác quản lý thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác, trong vụ án này, Cục thuế tham gia tố tụng để bảo vệ quyền lợi của Nhà nước và có yêu cầu truy thu khoản tiền thuế là 780.961.182 đồng đối với bị cáo, đây là nghĩa vụ thuế bị cáo, vì vậy cần truy thu số tiền trên đối với bị cáo nộp vào Ngân sách nhà nước.

[7] Việc xử lý vật chứng:

Số tiền 50.000.000 đồng được chuyển vào tài khoản tạm gửi của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cao Bằng mở tại K Chi nhánh tỉnh C theo ủy nhiệm chi

ngày 30/11/2023: xét thấy đây là số tiền gia đình bị cáo tự nguyện nộp khắc phục hậu quả. Sẽ được bù trừ vào phần nghĩa vụ thuế phải chịu của bị cáo.

[8] Về nghĩa vụ chịu án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[9] Các vấn đề khác của vụ án: Đối với Bế Thị Mai H là kế toán của công ty TNHH X vào năm 2020. Quá trình điều tra xác định được H không biết thời điểm bị cáo hoàn thành các công trình xây dựng và T cũng không cung cấp chứng từ cho H để kê khai thuế nên không xem xét xử lý là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội: “Trốn thuế”.

Căn cứ điểm b, d khoản 2 Điều 200; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh T 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 25/8/2023.

2. Việc xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên xử:

Truy thu đối với bị cáo số tiền nghĩa vụ thuế là 780.961.182 đồng để nộp vào ngân sách nhà nước. Xác nhận bị cáo đã nộp số tiền 50.000.000 đồng được chuyển vào tài khoản tạm gửi của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cao Bằng mở tại K Chi nhánh tỉnh C theo ủy nhiệm chi ngày 30/11/2023. Bị cáo còn phải nộp tiếp 730.961.182 đồng.

(Số tiền 50.000.000 đồng trên đã được chuyển giao cho Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cao Bằng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 41 ngày 08 tháng 12 năm 2023).

3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo về nội dung liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình được ghi tại Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Cao Bằng;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra;
  • - Phòng Hồ sơ Công an tỉnh CB;
  • - PC 03, PC 10 Công an tỉnh CB;
  • - Cục THADS tỉnh Cao Bằng.
  • - Phòng KTNV&THA;
  • - Sở Tư pháp CB;
  • - Trại tạm giam công an tỉnh CB;
  • - NTGTT;
  • - Lưu HS vụ án, HCTP;
  • - Lưu toà HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Na

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2024/HS-ST ngày 11/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG về hình sự (trốn thuế)

  • Số bản án: 02/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trốn thuế)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Năm 2004 bị cáo Nguyễn Minh T được Sở Kế hoạch đầu tư tỉnh C giấy chứng nhận Công ty TNHH X và giữ chức vụ Giám đốc công ty, mã số thuế 480.011.8110 đăng ký tại Cục thuế tỉnh C. Trong năm 2020 bị cáo không kê khai thuế giá trị gia tăng 01 công trình xây dựng đã được nghiệm thu, kê khai thiếu thuế giá trị gia tăng 05 công trình xây dựng đã được nghiệm thu, trong đó có 03 công trình bị cáo không kê khai và kê khai thiếu thuế giá trị gia tăng với số tiền trên 100.000.000 đồng. Tổng số 06 công trình xây dựng bị cáo không kê khai và kê khai thiếu doanh thu dẫn đến thiếu số tiền thuế giá trị gia tăng phải nộp ngân sách nhà nước là 780.961.182 đồng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger