|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 02/2024/HNGĐ-ST Ngày: 11 – 01 – 2024 V/v tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Hồng Biên.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Ngô Văn Khon.
- Ông Lê Văn Dài.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Bích - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.
Ngày 11 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 499/2023/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 172/2023QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Thái Thị Bích N, sinh năm 1988.
- - Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Lâm E, sinh năm 1986.
Địa chỉ cư trú: Số D, ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ cư trú: Số D, ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Chị Thái Thị Bích N, anh Nguyễn Văn Lâm E có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn chị Thái Thị Bích N trình bày:
Về hôn nhân: Chị Thái Thị Bích N và anh Nguyễn Văn L Em kết hôn năm 2006, không có đăng ký kết hôn. Hôn nhân giữa chị N và anh Lâm E được xây dựng trên cơ sở tự tìm hiểu.
Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Sau đó, phát sinh nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm, không hòa hợp trong cuộc sống. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 04/2023 đến nay, khoảng thời gian sống ly thân vợ chồng không có hàn gắn tình cảm với nhau. Chị N xác định, hiện nay giữa chị và anh Lâm E không còn tình cảm với nhau, không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau trong cuộc sống.
Nay, chị Thái Thị Bích N yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn L Em.
Về con chung: Chị N và anh Lâm E có 02 con chung Nguyễn Ngọc Tường V, sinh ngày 20/9/2009 và Nguyễn Ngọc Kim V1, sinh ngày 20/02/2015. Sau ly hôn, chị N đồng ý để anh Lâm E được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, chị N không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn anh Nguyễn Văn Lâm E trình bày:
Về hôn nhân: Anh Nguyễn Văn L Em thống nhất, chị N và anh Lâm E kết hôn năm 2006, không có đăng ký kết hôn. Hôn nhân giữa chị N và anh Lâm E được xây dựng trên cơ sở tự tìm hiểu.
Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Sau đó, phát sinh nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm, không hòa hợp trong cuộc sống. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 04/2023 đến nay, khoảng thời gian sống ly thân vợ chồng không có hàn gắn tình cảm với nhau. Anh Lâm E cũng xác định, hiện nay giữa anh và chị N không còn tình cảm với nhau, không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau trong cuộc sống.
Nay, anh Nguyễn Văn L Em đồng ý ly hôn với chị Thái Thị Bích N.
Về con chung: Anh Lâm E và chị N có 02 con chung Nguyễn Ngọc Tường V, sinh ngày 20/9/2009 và Nguyễn Ngọc Kim V1, sinh ngày 20/02/2015. Sau ly hôn, anh Lâm E yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án gồm:
- - Giấy khai sinh Nguyễn Ngọc Tường V (Bản sao).
- - Giấy khai sinh Nguyễn Ngọc Kim V1 (Bản sao).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Theo yêu cầu khởi kiện của chị Thái Thị Bích N và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật đang tranh chấp là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn anh Nguyễn Văn L Em cư trú tại ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hôn nhân: Chị Thái Thị Bích N yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn Lâm E.
Xét thấy, chị N và anh Lâm E chung sống với nhau từ năm 2006, không có đăng ký kết hôn là vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình.
Tại khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý”.
Mặt khác, trong quá trình chung sống chị N và anh Lâm E cũng phát sinh nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm, không hòa hợp trong cuộc sống. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, chị N và anh Lâm E đều xác định, giữa anh, chị không còn tình cảm với nhau, không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau trong cuộc sống.
Như vậy, có cơ sở xác định hôn nhân giữa chị N và anh Lâm E đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do chị N và anh Lâm E không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị N và anh Lâm E theo quy định tại khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2.2] Về con chung: Chị N và anh Lâm E thống nhất, anh Lâm E được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung tên Nguyễn Ngọc Tường V, sinh ngày 20/9/2009 và Nguyễn Ngọc Kim V1, sinh ngày 20/02/2015.
Xét thấy, chị N và anh Lâm E thống nhất, hiện nay anh Lâm E là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng hai con là Tường V và Kim V1. Tại Bản khai ngày 29/12/2023, Tường V và Kim V1 đều có nguyện vọng sống chung với anh Lâm E. Vì vậy, việc thỏa thuận về con chung của chị N và anh Lâm E là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được chấp nhận.
Sau khi ly hôn, chị N và anh Lâm E có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở; anh Lâm E cùng các thành viên gia đình không được cản trở chị N trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; chị N lạm dụng việc thăm con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì anh Lâm E có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm con của chị N theo quy định tại Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Anh Lâm E không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con chung, chị N không tự nguyên cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét gải quyết.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Chị N và anh Lâm E đều xác định là không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[3] Về án phí: Chị Thái Thị Bích N phải chịu án phí về hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Khoản 1 Điều 9, Điều 14, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Thái Thị Bích N.
- Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Thái Thị Bích N và anh Nguyễn Văn L Em.
- Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Ngọc Tường V, sinh ngày 20/9/2009 và Nguyễn Ngọc Kim V1, sinh ngày 20/02/2015 cho anh Nguyễn Văn L Em trực tiếp nuôi dưỡng, chị N không phải cấp dưỡng nuôi con chung, do anh Lâm E không yêu cầu.
Chị N và anh Lâm E có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Thái Thị Bích N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án, số: 0004359 ngày 21/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình. Như vậy, chị N đã nộp đủ tiền án phí về hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Võ Văn Hồng Biên |
Bản án số 02/2024/HNGĐ-ST ngày 11/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 02/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/01/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Thái Thị Bích N
