TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:02/2024/KDTM-ST Ngày: 10/5/2024. V/v: tranh chấp Hợp đồng cho thuê tài chính |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Hà.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Sen
- Ông Tạ Văn Nhật.
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Như Hoàng Hải- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Đ, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 08/2023/TLST- KDTM ngày 02 tháng 11 năm 2023, về việc: “Tranh chấp Hợp đồng cho thuê tài chính”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐXXST-KDTM ngày 16/4/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2024/QĐ-KDTM ngày 03/5/2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty C- Ngân hàng N (ALCI); Địa chỉ trụ sở: Số D P, phường K, quận Đ, Thành phố Hà Nội.
Đại diện theo pháp luật: Bà Trương Thị Xuân T- Chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Dương Thanh S; Chức vụ: Phó Tổng giám đốc.
Người đại diện tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Ngọc T1- Chức vụ: Trưởng phòng kinh doanh Công ty C- Ngân hàng N. (Quyết định ủy quyền số 05/QĐ-ALCI- HCNS ngày 23/02/2024). Có mặt
2. Bị đơn: Công ty TNHH D; Địa chỉ trụ sở: Số nhà C phố N, thị trấn P, huyện Đ, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Tạ Việt Q- chức vụ: Giám đốc. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn và lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thì: Ngày 10/9/2007, Công ty C- Ngân hàng N (gọi tắt là Công ty C) và Công ty TNHH D (gọi tắt là Công ty D) đã ký Hợp đồng cho thuê tài chính số 155/2007/ALC1. Tài sản cho thuê là 05 xe ô tô 05 chỗ ngồi nhãn hiệu GM DEAWOO GENTRAL SX do Việt Nam lắp ráp năm 2007, mới 100% động cơ xăng và 01 xe ô tô 05 chỗ ngồi nhãn hiệu GM DEAWOO LACETTI 1.6 do Việt Nam lắp ráp năm 2007, mới 100%, động cơ xăng, tay lái thuận. Tổng giá trị các tài sản cho thuê là 1.871.385.000 đồng. Thời hạn cho thuê là 60 tháng kể từ ngày ký nhận tài sản thuê. Công ty D đã đặt cọc số tiền 561.415.500 đồng và ký cược số tiền 94.000.000 đồng. Tính từ ngày Công ty D ký nhận tài sản thuê là ngày 11/9/2007, dư nợ cho thuê là 1.309.969.500 đồng (sau khi đã trừ số tiền đặt cọc). Lãi suất Quá trình thực hiện Hợp đồng, năm 2009 hai bên đã thỏa thuận thanh lý trước thời hạn hợp đồng thuê đối với tài sản là 01 xe ô tô 05 chỗ ngồi nhãn hiệu GM DEAWOO LACETTI 1.6. Năm 2011, ông Tạ Việt Q (giám đốc Công ty D) và bà Bùi Thị Q1 (thành viên Công ty) đều bị điều tra, xử lý về hình sự nên bị đơn không còn thực hiện nghĩa vụ trả tiền thuê và không bàn giao tài sản thuê trả nguyên đơn. Số dư nợ cho thuê tài sản lúc này còn lại là 420.726.028 đồng. Đến ngày 24/12/2015, sau nhiều năm hết hạn hợp đồng thuê, nguyên đơn không được thanh toán tiền thuê và cũng không thu hồi được tài sản cho thuê nên nguyên đơn đã khấu trừ khoản tiền ký cược của Công ty D để trừ vào một phần số dư nợ cho thuê tài sản. Vì vậy, dư nợ cho thuê tài sản hiện còn lại là 326.726.028 đồng. Số tiền lãi phát sinh trên số dư nợ gốc tính từ ngày 01/12/2010 đến ngày xét xử gồm có lãi trong hạn là 79.069.882 đồng, lãi quá hạn là 878.222.872 đồng. Do đó, nguyên đơn khởi kiện đề nghị Tòa án buộc bị đơn thực hiện nghĩa vụ trả nợ tính đến ngày 10/5/2024 với tổng số tiền là 1.320.963.253 đồng bao gồm 1.284.018.782 đồng nợ gốc, lãi và 36.944.471 đồng tạm ứng bảo hiểm. Nguyên đơn đề nghị Tòa án buộc bị đơn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Hợp đồng cho thuê tài chính kể từ ngày 10/5/2024 cho đến khi bị đơn thanh toán xong toàn bộ nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn. Trường hợp bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, đề nghị Tòa án tuyên nguyên đơn có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý các tài sản cho thuê tài chính là 05 chiếc xe ô tô 05 chỗ nhãn hiệu GM DEAWOO GENTRAL BKS 29Z-7704; 29Z- 7764; 29Z- 7087; 29Z- 7414 và 29Z- 7219 thuộc quyền sở hữu hợp pháp của nguyên đơn và bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu của Công ty D để thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bị đơn đối với nguyên đơn.
Sau khi thụ lý đơn khởi kiện của Công ty C, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt Thông báo thụ lý vụ án đối với bị đơn nhưng bị đơn không gửi cho Tòa án ý kiến trình bày quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Người đại diện của nguyên đơn cũng không đến Tòa án làm việc theo các Thông báo của Tòa án. Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải nhưng đại diện của bị đơn đều không thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa: Đại diện nguyên đơn giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tại phiên tòa phát biểu ý kiến về thủ tục tố tụng và việc tuân theo pháp luật của Tòa án, Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án đều tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng các quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn chưa chấp hành đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn phải có nghĩa vụ trả nguyên đơn số tiền còn nợ theo Hợp đồng cho thuê tài chính là 1.320.963.253 đồng, bao gồm 326.726.028 đồng tiền gốc, 79.069.882 đồng lãi trong hạn, 878.222.872 đồng lãi quá hạn và 36.944.471 đồng tạm ứng bảo hiểm. Chấp nhận cho nguyên đơn quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc thu hồi tài sản cho thuê là 05 chiếc xe ô tô 05 chỗ nhãn hiệu GM DEAWOO GENTRAL BKS 29Z-7704; 29Z- 7764; 29Z- 7087; 29Z- 7414 và 29Z- 7219 và kê biên phát mại các tài sản khác thuộc sở hữu hợp pháp của Công ty TNHH D để thực hiện nghĩa vụ trả nợ
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Xác định quan hệ pháp luật có tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Công ty C, Ngân hàng N và Công ty D thỏa thuận ký kết Hợp đồng cho thuê tài chính. Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty D không thực hiện đúng thỏa thuận. Công ty cho thuê tài chính I khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Đ là nơi có trụ sở của Công ty D. Vì vậy, Tòa án xác định tranh chấp phát sinh giữa các bên là tranh chấp Hợp đồng cho thuê tài chính theo quy định tại Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Đ, Thành phố Hà Nội theo các quy định tại Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[1.2] Căn cứ văn bản số 4762/CCTT- ĐKKD ngày 04/12/2023 của Phòng đăng ký kinh doanh, Sở kế hoạch đầu tư thành phố H về việc cung cấp thông tin Công ty TNHH D cho biết tại thời điểm hiện tại Công ty D chưa đăng ký thủ tục tạm ngừng, giải thể, sáp nhập hay chia tách doanh nghiệp. Người đại diện theo pháp luật đồng thời là một trong số thành viên góp vốn của Công ty D là ông Tạ Việt Q. Thành viên góp vốn còn lại là bà Bùi Thị Q1. Ngoài ông Q và bà Q1, không còn thành viên nào khác.
Căn cứ biên bản xác minh tại Công an thị trấn P, và lời khai người làm chứng là thân nhân của ông Q, bà Q1, xác định được từ 2018 và năm 2020, bà Q1 và ông Q đã được tự do về địa phương nhưng cả ông Q và bà Q1 đều không có mặt tại nơi cư trú, có chủ động liên lạc với người thân nhưng không cho biết địa chỉ và phương thức liên hệ. Vì vậy, Tòa án xác định ông Q và bà Q1 thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ và Tòa án cũng không có cơ sở để cử thành viên nào khác của Công ty D làm người đại diện tham gia tố tụng trong vụ án. Tòa án tiến hành các thủ tục niêm yết theo quy định của pháp luật để giải quyết vụ việc.
[1.3] Về áp dụng thời hiệu khởi kiện: Căn cứ thỏa thuận giữa các bên tại khoản 1, Điều 6 Hợp đồng cho thuê tài chính số 155/2007/ALCI ngày 10/09/2007 về thời hạn cho thuê thì Hợp đồng cho thuê đã hết hạn ngày 11/9/2012, đã quá thời hạn khởi kiện. Tuy nhiên, cho đến trước khi Hội đồng xét xử ra bản án giải quyết vụ việc, không có bên nào đề nghị áp dụng thời hiệu. Vì vậy, căn cứ quy định tại Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử không áp dụng thời hiệu khởi kiện để xem xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[1.4] Về áp dụng luật: Hợp đồng giữa nguyên đơn và bị đơn xác lập và kết thúc khi Bộ luật dân sự 2005, Luật các tổ chức tín dụng 2010 đang có hiệu lực pháp luật. Vì vậy, khi giải quyết tranh chấp, Tòa án sẽ căn cứ các quy định của Bộ luật dân sự 2005, Luật các tổ chức tín dụng 2010, các văn bản quy phạm pháp luật điều đang có hiệu lực tại thời điểm xác lập giao dịch để làm căn cứ để xem xét, đánh giá về nội dung.
[2] Về nội dung
[2.1] Xét thấy Hợp đồng cho thuê tài chính số 155/2007/ALCI ngày 10/09/2007 giữa Công ty C và Công ty D được xác lập trên cơ sở tự nguyện, đảm bảo các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự quy định tại Điều 122 của Bộ luật dân sự 2005, có hình thức và nội dung phù hợp quy định tại Điều 401, 402 của Bộ luật dân sự 2005. Vì vậy, Hợp đồng cho thuê tài chính số 155/2007/ALCI ngày 10/09/2007 nói trên là hợp pháp và có hiệu lực thi hành đối với các bên.
[2.2] Căn cứ Hợp đồng mua bán tài sản số 155/2007/HĐMB ngày 10/9/2007 giữa Công ty C và Công ty cổ phần C1; Biên bản xác nhận tài sản thuê ngày 10/9/2007 giữa Công ty C, Công ty cổ phần C1 và Công ty D, dù cơ sở xác định Công ty D đã được được nhận bàn giao tài sản thuê có tổng giá trị là 1.871.385.000 đồng.
[2.3] Căn cứ bảng tính lãi do nguyên đơn xuất trình, xác định được, tính đến ngày xét xử, Công ty D còn nợ Công ty cho thuê tài chính I số tiền 326.726.028 đồng gốc, 79.069.882 đồng lãi trong hạn, 878.222.872 đồng lãi quá hạn.
Căn cứ Phiếu chuyển khoản ngày 24/10/2008 do nguyên đơn cung cấp, xác định được Công ty cho thuê tài chính I đã tạm ứng cho Công ty D 36.944.471 đồng phí bảo hiểm.
Do đó, tổng số tiền Công ty D có nghĩa vụ phải trả cho Công ty C là 1.320.963.253 đồng, tạm tính đến ngày 10/5/2024.
[2.4] Kể từ ngày 10/5/2024, bị đơn còn phải chịu lãi phát sinh trên dư nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất quá hạn thỏa thuận tại Hợp đồng cho thuê tài chính và Phụ lục Hợp đồng với các kỳ điều chỉnh lãi suất theo thỏa thuận, cho đến khi tất toán toàn bộ khoản nợ.
[2.5] Đối với các tài sản cho thuê là 05 chiếc xe ô tô 05 chỗ nhãn hiệu GM DEAWOO GENTRAL BKS 29Z-7704; 29Z- 7764; 29Z- 7087; 29Z- 7414 và 29Z- 7219. Xét thấy các tài sản này thuộc quyền sở hữu hợp pháp của nguyên đơn và căn cứ vào thỏa thuận tại điểm 1.3 khoản 1 Điều 13 của Hợp đồng cho thuê tài chính số 155/2007/ALCI ngày 10/09/2007. Do đó, trường hợp bị đơn không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ như nêu trên thì nguyên đơn có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc thu hồi tài sản để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Giá trị còn lại của tài sản căn cứ vào giá trị còn lại xác định tại thời điểm thu hồi được tài sản và để khấu trừ vào một phần nghĩa vụ của bị đơn với nguyên đơn. Phần nghĩa vụ còn thiếu sau khi khấu trừ, bị đơn vẫn phải tiếp tục thực hiện.
[3] Về án phí: Toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Số tiền án phí được tính như sau: 36.000.000 đồng +(1.320.963.253 - 800.000.000)đồng x 3% = 51.628.897 đồng.
[4]. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 122, Điều 280, 281, 401, 402, 480, 490 của Bộ luật dân sự năm 2005;
Căn cứ vào Điều 30, 35, 39, 147, 184, 227, 228, 266, 271, 273, 278 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 113, Khoản 2 Điều 91, Khoản 1 Điều 95 Luật các tổ chức Tín dụng 2010; Điều 12 Luật doanh nghiệp 2020;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty C- Ngân hàng N đối với Công ty TNHH D.
Buộc Công ty TNHH D phải có nghĩa vụ trả Công ty cho thuê tài chính I- Ngân hàng N tổng số tiền 1.320.963.253 đồng (viết bằng chữ: Một tỷ ba trăm hai mươi triệu, chín trăm sáu mươi ba nghìn, hai trăm năm mươi ba đồng) theo Hợp đồng cho thuê tài chính số 155/2007/ALCI ngày 10/09/2007, trong đó số tiền nợ gốc là 326.726.028 đồng gốc, lãi trong hạn là 79.069.882 đồng, lãi quá hạn tạm tính đến ngày 10/5/2024 là 878.222.872 đồng và tiền tạm ứng phí bảo hiểm là 36.944.471 đồng.
Kể từ ngày 10/5/2024, Công ty TNHH D còn phải chịu lãi phát sinh trên dư nợ gốc theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Hợp đồng cho thuê tài chính số 155/2007/ALCI ngày 10/09/2007, cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
(Trường hợp trong Hợp đồng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo Quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay).
- Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, nếu Công ty TNHH D không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Công ty C- Ngân hàng N có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý thu hồi 05 chiếc xe ô tô 05 chỗ nhãn hiệu GM DEAWOO GENTRAL BKS 29Z-7704; 29Z-7764; 29Z- 7087; 29Z- 7414 và 29Z- 7219 và kê biên phát mại các tài sản khác thuộc sở hữu hợp pháp của Công ty TNHH D để thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với Công ty C- Ngân hàng N.
- Về án phí: Công ty TNHH D phải chịu 51.628.897 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Trả lại Công ty C- Ngân hàng N 24.900.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đan Phượng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010021 ngày 02/11/2023.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hà |
Bản án số 02/2024/KDTM-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng cho thuê tài chính
- Số bản án: 02/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp Hợp đồng cho thuê tài chính
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/05/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu KK của NĐ
