Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN MINH

TỈNH HÀ GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2024/HS-ST

Ngày 10 - 01 - 2024

 

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MINH, TỈNH HÀ GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Đạng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Bình, bà Phạm Thị Thỏa.

- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Hữu Toàn là Thư ký viên Toà án nhân dân huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Lài - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang, Tòa án nhân dân huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2023/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2023 và Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số 01/TB-TA, ngày 05/01/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vàng Mí V, sinh ngày 09/01/1988, tại xã S, huyện Đ, tỉnh Hà Giang; nơi cư trú: Thôn L, xã S, huyện Đ, tỉnh Hà Giang; căn cước công dân số: [...], do Cục C1 về TTXH Bộ C2 cấp ngày 29/9/2022; nghề nghiệp: Làm nương; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Vàng Nỏ L (đã chết) và bà Sùng Thị M, sinh năm 1944; có vợ: Sùng Thị D, sinh năm 1985 và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2012; Tiền án: Có 04 tiền án, tại Bản án số: 10/2018/HS-ST, ngày 15/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; tại Bản án số: 12/2018/HS-ST, ngày 22/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang xử phạt 11 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; tại Bản án số: 08/2019/HS-ST, ngày 14/3/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang xử phạt 07 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, tổng hợp hình phạt với Bản án số: 10/2018/HS-ST, ngày 15/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Văn và Bản án số: 12/2018/HS-ST, ngày 22/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Quản Bạ, buộc bị cáo Vàng Mí V phải chấp hành hình phạt chung là 02 năm 03 tháng tù; tại Bản án số: 14/2019/HS-ST, ngày 14/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, tổng hợp hình phạt với Bản án số: 08/2019/HS-ST, ngày 14/3/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang, buộc bị cáo Vàng Mí V phải chấp hành hình phạt chung là 45 tháng tù (tính đến ngày 17/01/2022 đã chấp hành xong hình phạt nhưng chưa được xóa án tích); tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 27/12/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Đồng Văn xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo hiện đang bị tạm giam (trong vụ án khác) tại nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Hà Giang. Có mặt.

- Bị hại: Lầu Chá T, sinh năm 1982 (đã chết).

- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Hờ Thị D1, sinh năm 1990; Trú tại: Thôn K, xã H, huyện Y, tỉnh Hà Giang. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Vàng Dũng G, sinh năm 1968; Trú tại: Thôn L, xã S, huyện Đ, tỉnh Hà Giang. Có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

+ Người làm chứng: Bà Sùng Thị D. Có mặt

+ Người phiên dịch Tiếng dân tộc Mông: Ông Vừ Mí X; trú tại: Tổ D, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Hà Giang. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ 00 phút, ngày 11/8/2023 tại Km20 + 600m Quốc lộ D hướng Đ - Hà Giang thuộc địa phận thôn S, xã S, huyện Đ, tỉnh Hà Giang, tổ công tác Công an huyện Đ bắt quả tang Vàng Mí V, sinh ngày 09/01/1988, trú tại thôn L, xã S, huyện Đ, tỉnh Hà Giang đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Hà Giang đã khởi tố điều tra đối với Vàng Mí V về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Trong quá trình điều tra, V đã tự thú chiếc xe máy mà V điều khiển khi bị bắt quả tang về hành vi trên là do V trộm cắp mà có, nội dung cụ thể như sau: Khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 16/11/2022, Vàng Mí V một mình điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, màu sơn đỏ - đen, BKS: 23N1-106.41 (xe mượn của anh trai V là Vàng Dũng G, trú cùng thôn) từ nhà đi đón bạn là Thào Mí H để cùng nhau đi xã B, huyện Y để mua ma túy về sử dụng nhưng không mua được. Đến 19 giờ cùng ngày, cả hai quay về, trên đường về Hờ rủ V đi trộm cắp xe máy của gia đình ông Lầu Chá T1 tại thôn K, xã H, huyện Y, V đồng ý. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày thì đến nhà L, H dừng xe cách nhà T1 khoảng 300m rồi bảo V đợi, còn H đi một mình vào xem mọi người đã đi ngủ hết chưa, khoảng 30 phút sau H quay lại nói với V là mọi người đã đi ngủ hết rồi nên cả hai đi bộ vào, đến nơi phát hiện cổng nhà được đan bằng tre không khóa, V và H đi vào sân cửa chính thì phát hiện có chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA, BKS: 23M1-211.00 màu sơn xám đen, H tiến đến cầm hai tay nắm xe, V cầm đuôi xe cùng kéo lùi chiếc xe về phía góc sân rồi quay đầu xe đẩy ra cổng, H điều khiển xe trôi dốc, V điều khiển xe của V. Sau đó, H bảo V bật đèn pin điện thoại soi cho H rút dây điện ở đầu xe trộm cắp được đấu nối lại để khởi động xe, sau khi khởi động được xe thì cả hai về nhà V để ngủ. Đến khoảng 09 giờ sáng ngày 17/11/2022, cả hai cùng thống nhất chiếc xe trộm cắp được có giá là 10.000.000đ (mười triệu đồng), do muốn có phương tiện đi lại nên V lấy chiếc xe rồi trả cho Hờ 5.000.000₫ (năm triệu đồng), H đồng ý. Quá trình sử dụng chiếc xe máy trộm cắp được, V đã thay bộ vỏ xe thành màu xanh đen và ổ khóa, sau đó vứt vỏ xe và ổ khóa cũ đi đồng thời tháo 02 gương và BKS 23M1-211.00 của xe cất dấu và lắp BKS 23N1-003.30 (BKS do V nhặt được) để sử dụng.

Ngày 06/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Hà Giang đã tiến hành lập biên bản tiếp nhận người phạm tội tự thú.

Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã tiến hành kiểm tra xe máy lúc bắt quả tang mà Vàng Mí V khai đã trộm cắp được vào khoảng tháng 11/2022 tại thôn K, xã H, huyện Y. Kết quả kiểm tra: Chiếc xe máy Vàng Mí Vừ trộm cắp được có số máy E3S1E154846, số khung RLCUE1370NY007033, tiến hành so sánh đối chiếu xác định số máy, số khung của chiếc xe Vàng Mí Vừ trộm cắp được trùng khớp với số máy, số khung trong chứng nhận đăng ký xe của anh L1 Chá Tính cung cấp.

Tại bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 27/KL-HĐĐGTS ngày 10/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ, tỉnh Hà Giang kết luận về giá trị của tài sản là: 20.000.000₫ (hai mươi triệu đồng).

Ngày 20/9/2023 Cơ quan điều tra đã tiến hành cho bị cáo Vàng Mí V xác định nơi bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Kết quả Vàng Mí V xác định hiện trường tại nhà của anh Lầu Chá T1, sinh năm 1982, tại thôn K, xã H, huyện Y, tỉnh Hà Giang phù hợp với lời khai và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được.

Trước Cơ quan điều tra bị cáo Vàng Mí V đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản xác định hiện trường, kèm sơ đồ, bản ảnh, biên bản thực nghiệm điều tra kèm sơ đồ, bản ảnh, hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng những vật chứng đã thu giữ được; lời khai của người bị hại, đại diện của bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và những tài liệu, chứng cứ khác thu thập được lưu trong hồ sơ vụ án.

Quá trình điều tra Vàng Mí V khai nhận Vừ thực hiện hành trộm cắp chiếc xe máy của bị hại Lầu Chá Tính cùng Thào Mí H, sinh năm 1993, trú tại thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Hà Giang, tuy nhiên quá trình điều tra không xác minh được hiện đối tượng đang ở đâu, chưa lấy được lời khai của H, ngoài ra không có chứng cứ, tài liệu nào chứng minh việc H cùng tham gia trộm cắp. Do đó, chưa đủ căn cứ để xử lý đối với Lầu Mí Hờ trong vụ án này, Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra, xác minh, làm việc với đối tượng, khi có đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

* Vật chứng thu giữ được của vụ án gồm: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave RSX, màu sơn đỏ-đen, BKS 23N1-106.41, xe có một gương chiếu hậu bên trái, vỏ xe có nhiều vết xước kèm theo một chìa khóa xe; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại JUPITER GP, BKS 23N1-003.30, màu xanh đen, xe có một gương chiếu hậu bên trái, phần đầu, yếm xe có nhiều vết xước; 02 (hai) gương cao xe máy, loại YAMAHA; 01 (một) BKS 23M1-211.00.

Quá trình điều tra xác định sau khi trộm cắp chiếc xe máy của L1 Chá Tính, bị cáo V đã thay vỏ xe máy màu xám - đen và 01 ổ khoá của bị hại bằng vỏ xe máy màu xanh - đen và 01 ổ khoá do bị cáo đặt mua trên mạng. Sau đó, bị cáo đã vứt vỏ xe và ổ khoá cũ tại khu vực ven đường thuộc thôn L, xã S, huyện Đ; chiếc điện thoại bị cáo dùng để soi rút dây điện khởi động xe máy trộm cắp được bị cáo đã làm mất. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã ban hành Thông báo truy tìm vật chứng đối với số vật chứng trên. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có kết quả.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra bị hại và người đại diện của bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 25.800.000₫ là tiền đền bù hao mòn tài sản, chi phí tìm xe trong 09 tháng; bồi thường tiền thay vỏ xe, ổ khoá xe và biển kiểm soát; bồi thường chi phí đi lại trong thời gian mất xe 250.000₫/ 01 ngày. Tuy nhiên, bị cáo V chưa bồi thường được khoản nào cho phía bị hại.

Tại bản cáo trạng số: 02/CT-VKSYM ngày 20/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang đã truy tố bị cáo Vàng Mí V về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: tuyên bố bị cáo Vàng Mí V phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vàng Mí V từ 24 đến 30 tháng tù. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có tài sản, không có nghề nghiệp ổn định nên không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu tiều hủy 01 biển kiểm soát 23N1-003.30; áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Vàng D2 Già 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Hon da loại Wave RSX, sơn màu đỏ đen, BKS 23N1-106.41, xe có 01 gương chiếu hậu bên trái, vỏ xe có nhiều vết xước. Kèm theo 01 chìa khoá xe; áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự trả lại cho đại diện bị hại bà Hờ Thị D1 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại JUPITER GP, màu xanh đen, xe có 01 gương chiếu hậu bên trái, phần đầu, yếm xe có nhiều vết xước; 02 (hai) gương cao xe máy, loại YAMAHA; 01 (một) biển kiểm soát 23M1-21100. Về phần dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự 2015; các Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật dân sự năm 2015 và Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/09/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, do tại phiên tòa bị cáo đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 4.000.000đ, nên cần chấp nhận đề nghị này của bị cáo, tuyên buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại tổng số tiền 4.000.000đ. Về án phí: Đề nghị HĐXX Áp dụng điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đề nghị Hội đồng xét xử miễn toàn bộ án phí cho bị cáo.

Bị cáo có ý kiến tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đề nghị đối với bị cáo là quá cao, bị cáo đề nghị HĐXX xem xét xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù; về trách nhiệm bồi thường dân sự bị cáo nhất trí tự nguyện bồi thường thiệt hại về tài sản bao gồm tiền hao mòn xe, tiền thay thế phụ tùng xe, với tổng số tiền 4.000.000đ; các vấn đề khác nhất trí như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến tranh luận về hình phạt đối với bị cáo; về trách nhiệm dân sự đề nghị bị cáo bồi thường tổng số tiền 15.000.000₫ bao gồm chi phí hao mòn xe, tiền thay thế phụ tùng xe, tiền công truy tìm xe.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều nhất trí với luận tội của Viện kiểm sát, không có tranh luận đối đáp gì thêm.

Đại diện Viện kiểm sát tranh luận: Đối với quan điểm của bị cáo về mức hình phạt từ 15 tháng đến 18 tháng tháng tù là chưa tương xứng với tính chất mức độ hành vi mà bị cáo đã gây ra vì bị cáo có nhân thân xấu và có 4 tiền án về tội trộm cắp tài sản do vậy Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên mức đề nghị từ 24 đến 30 tháng tù; đối với quan điểm của người đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị bị cáo bồi thường tổng số tiền 15.000.000₫ bao gồm chi phí hao mòn xe, tiền thay thế phụ tùng xe, tiền công truy tìm xe. Tuy nhiên không đưa ra được bất kỳ tài liệu chứng cứ chứng minh về chi phí hợp lý về tài sản bị xâm phạm vì trong hồ sơ chỉ có các tài liệu về chi phí hợp lý của việc thay thế phụ tùng của xe với số tiền 2.610.000đ, do vậy yêu cầu này là không có đủ căn cứ để chấp nhận toàn bộ.

Đại diện Viện kiểm sát diện bị cáo, những người tham gia tố tụng giữ nguyên quan điểm của mình không có tranh luận đối đáp gì thêm.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên, những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang.

Bị cáo thực hiện quyền nói lời sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị xử lý về hình sự là đúng, xin được giảm nhẹ hình phạt thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát dân nhân huyện Y, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh, áp dụng điều luật: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo trước tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng có trong hồ sơ vụ án, ngoài ra còn phù hợp với toàn bộ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định: Ngày 16/11/2022 Vàng Mí V đã có hành vi trộm cắp tài sản là 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA, số loại JUPITER FI màu sơn xám-đen, BKS 23M1-211.00 của ông Lầu C Tính trị giá là 20.000.000₫ (hai mươi triệu đồng). Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Minh truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Minh là có căn cứ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Vàng Mí V phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Bị cáo Vàng Mí V là người có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được việc trộm cắp tài sản của người dân là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản, gây ảnh hưởng đến trị an địa phương, hành vi của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật. Mặc dù bị cáo khai bị Thào Mí H rủ rê phạm tội, nhưng bị cáo vẫn đồng ý, bị cáo đã có 04 tiền án về tội danh trên, nhưng bị cáo vẫn không lấy đó làm bài học để phấn đấu trở thành công dân có ích cho xã hội mà bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, ngoài ra ngày 11/8/2023 bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đã bị Tòa án nhân dân huyện Đồng Văn xét xử 24 tháng tù. Chính vì vậy cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật với hình phạt tương xứng nghiêm khắc, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo cũng như đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân không tốt cụ thể, ngày 27/12/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Đồng Văn xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo có 04 tiền án như đã nêu ở phần căn cước lý lịch của bị cáo, đến ngày 17/01/2022 bị cáo đã chấp hành xong hình phạt, tuy nhiên chưa được xóa án tích mà lại cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy lần phạm tội này bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự gồm: Trong quá trình điều tra vụ án Tàng trữ trái phép chất ma túy bị cáo đã tự thú về hành vi phạm tội trộm cắp tài sản của mình, tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định tại điểm r, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, lời khai của bị cáo tại phiên tòa xác định được bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa người đại diện của bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 15.000.000₫ chi phí hao mòn xe, chi phí truy tìm xe; tiền thay thế phụ tùng của xe; bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại về tài sản bao gồm tiền hao mòn xe, tiền thay thế phụ tùng xe, với tổng số tiền 4.000.000đ. Hội đồng xét xử thấy yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm của người đại diện hợp pháp cho bị hại là có căn cứ, tuy nhiên người đại diện hợp pháp của bị hại không cung cấp thêm các tài liệu chứng cứ, chứng minh cho các chi phí hợp lý về tài sản bị xâm hại; các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ có căn cứ về chi phí thay thế phụ tùng của xe là 2.610.000đ, do bị cáo tự nguyện thỏa thuận về mức bồi thường thiệt hại số tiền 4.000.000₫ nên cần được chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự 2015; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/09/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

[7] Về xử lý vật chứng của vụ án: Cần căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiều hủy 01 biển kiểm soát 23N1-003.30 vì không còn giá trị sử dụng; cần căn cứ khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Vàng D2 Già 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave RSX, sơn màu đỏ-đen, BKS 23N1-106.41, xe có 01 gương chiếu hậu bên trái, vỏ xe có nhiều vết xước, kèm theo 01 chìa khoá xe vì không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo; trả lại cho đại diện bị hại bà Hờ Thị D1 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại JUPITER GP, màu xanh đen, xe có 01 gương chiếu hậu bên trái, phần đầu, yếm xe có nhiều vết xước; 02 (hai) gương cao xe máy, loại YAMAHA; 01 (một) biển kiểm soát 23M1-211.00 vì tài sản do bị cáo chiếm đoạt sử dụng trái phép.

[8] Về án phí: Bị cáo là dân tộc thiểu số sinh sống ở nơi có điều kiện kinh tế xã hội đặc bệt khó khăn và đã có đơn xin miễn án phí nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch cho bị cáo.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 33 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[10] Đối với hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” ngày 11/8/2023 của bị cáo Vàng Mí V, đã bị Tòa án nhân dân huyện Đồng Văn xét xử 24 tháng tù, tuy nhiên chưa có hiệu lực pháp luật, vì vậy không tổng hợp hình phạt cũng như không đề cập giải quyết trong vụ án này.

[11] Đối với hành vi của bị cáo đã tháo biển kiểm soát 23M1-211.00 của xe cất giấu và lắp biển kiểm soát 23N1-003.30 (biển kiểm soát do bị cáo nhặt được trước đó) để sử dụng. Ngày 30/10/2023 Công an huyện Đ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 350.000đ đối với Vàng Mí V về hành vi này là thỏa đáng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[12] Đối với Sùng Thị D là vợ của V, Vàng D2 Già là anh trai của V, khi V sử dụng chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, số loại Wave RSX, màu sơn: đỏ-đen, BKS: 23N1-106.41 (xe mượn của Già) để đi trộm cắp tài sản vào ngày 16/11/2022 thì G không biết V sử dụng dụng chiếc xe máy trên đi trộm cắp tài sản; chiếc xe máy do bị cáo V trộm cắp mang về nhà sử dụng nhưng D không biết đó là tài sản do V trộm cắp mà có. Vì vậy không đủ căn cứ xử lý đối với Sùng Thị D và Vàng Dũng G.

[13] Do vậy quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ cần được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, khoản 2 Điều 47, khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015; căn cứ điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/09/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; khoản 1, khoản 3 Điều 329, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vàng Mí V phạm tội “Trộm cắp tài sản".

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vàng Mí V: 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Quyết định tạm giam bị cáo Vàng Mí V 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 10/01/2024) để đảm bảo thi hành án.

3. Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận sự tự nguyện bồi thường thiệt hại của bị cáo cho người đại diện hợp pháp của bị hại, buộc bị cáo Vàng Mí V có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm với tổng số tiền 4.000.000đ (bốn triệu đồng). Thời điểm thanh toán kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, phương thức thanh toán trả làm một lần, người nhận tiền là bà Hờ Thị D1, địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện Y, tỉnh Hà Giang.

Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 01 biển kiểm soát 23N1-003.30.

- Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Vàng D2 Già 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave RSX, sơn màu đỏ đen, BKS 23N1-106.41, xe có 01 gương chiếu hậu bên trái, vỏ xe có nhiều vết xước, kèm theo 01 chìa khoá xe.

- Trả lại cho người đại diện hợp pháp của bị hại bà Hờ Thị D1 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại JUPITER GP, màu xanh đen, xe có 01 gương chiếu hậu bên trái, phần đầu, yếm xe có nhiều vết xước; 02 (hai) gương cao xe máy, loại YAMAHA; 01 (một) biển kiểm soát 23M1-211.00.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Điều tra Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Minh ngày 24 tháng 11 năm 2023)

5. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) và án phí dân sự có giá ngạch là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) cho bị cáo Vàng Mí V.

6. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

7. Về thi hành án dân sự: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Giang;
  • - VKSND tỉnh Hà Giang;
  • - Trại tạm giam công an tỉnh Hà Giang;
  • - VKSND huyện Yên Minh;
  • - Cơ quan Điều tra Công an huyện Yên Minh;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện Yên Minh;
  • - Chi cục THADS huyện Yên Minh;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Văn Đạng

11

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Thị Thỏa Hoàng Văn Đạng
Nguyễn Đình Bình  
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2024/HS-ST ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MINH, TỈNH HÀ GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 02/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MINH, TỈNH HÀ GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vàng Mí V "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger