|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI TỈNH QUẢNG NGÃI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc. |
Bản án số: 02/2024/HS-ST
Ngày: 10-01-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Loan.
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Đỗ Thanh Đình - nguyên Bí thư đoàn xã Tịnh Châu, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi;
Bà Nguyễn Thị Bình – nguyên Chủ tịch Hội phụ nữ phường Nguyễn Nghiêm, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Quỳnh Nương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Nhật Tân – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 01 năm 2024, tại Hội trường xử án Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 233/2023/HSST ngày 17 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 306/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Đức Q, sinh ngày 06/8/2006, nơi sinh tại tỉnh Quảng Ngãi; địa chỉ: Số nhà B đường T, tổ I, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, nghề nghiệp: học sinh, trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tấn H và bà Phạm Thị Hương H1; vợ con chưa có.
Tiền án, tiền sự; Không có.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/8/2023 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: Ông Nguyễn Tấn H, sinh năm: 1972 và bà Phạm Thị Hương H1, sinh năm: 1977, cùng địa chỉ: Số nhà B đường T, tổ I, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. Ông H có mặt, bà H1 có đơn xin vắng mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Xuân P – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Q theo Quyết định cử Trợ giúp pháp lý của Giám đốc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Q, có mặt.
Bị hại: Ông Đỗ Thanh S, sinh năm: 1974; địa chỉ: Tổ A, thị trấn M, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 28/6/2023, Nguyễn Đức Q điều khiển xe máy điện, biển kiểm soát 76MĐ1 – 010.36 đi từ địa chỉ số B đường T, tổ I, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi đến Trường Cao đẳng V - Hàn Quốc - Quảng Ngãi (Địa chỉ: Số B đường H, tổ G, phường Q, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi) để nộp hồ sơ học văn hóa. Khoảng 08 giờ 15 phút cùng ngày, Q ra về thì thấy 01 (Một) xe mô tô, biển kiểm soát 76G1 – 139.86, nhãn hiệu YAMAHA, loại xe SIRIUS, màu sơn đen – trắng của ông Đỗ Thanh S (Sinh năm 1974; Nơi cư trú: Tổ A, thị trấn M, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi) để gần nhà hiệu bộ của Trường Cao Đẳng V - Hàn Quốc - Quảng Ngãi không có người quản lý. Thấy vậy, Q dùng chìa khóa của xe máy điện để mở khóa xe mô tô, biển kiểm soát 76G1 – 139.86 thì mở được. Sau đó, Q điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát: 76G1 – 139.86 về nhà ở địa chỉ số B đường T, tổ I, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.
Đến khoảng 08 giờ 35 phút cùng ngày, Nguyễn Đức Q điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát: 76G1 – 139.86 qua nhà của Võ Thanh H2 (Sinh ngày: 19/3/2006; Nơi cư trú: Tổ B, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi – Là bạn của Q) ở địa chỉ: A N, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. Khi gặp H2, Q nhờ H2 cùng đến Trường Cao Đẳng V - Hàn Quốc - Quảng Ngãi để lấy xe máy điện, biển kiểm soát 76MĐ1 – 010.36 về, H2 đồng ý. Cả hai sử dụng xe mô tô, biển kiểm soát: 76G1 – 139.86 cùng đi đến Trường Cao Đẳng V - Hàn Quốc - Quảng Ngãi. Tại đây, Q điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát: 76G1 – 139.86 còn H2 điều khiển xe máy điện, biển kiểm soát: 76MĐ1 – 010.36 đi về nhà của Q. Sau đó, Quyền điều khiển mô tô, biển kiểm soát: 76G1 – 139.86 chở H2 về nhà, rồi Q điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát: 76G1 – 139.86 về nhà của Quyền cất và sử dụng làm phương tiện đi lại.
Ngày 29/6/2023, Công an thành phố Q mời Nguyễn Đức Q làm việc, Quyền tự nguyện giao nộp xe mô tô, biển kiểm soát: 76G1 – 139.86; giấy đăng ký xe trong cốp xe cho lực lượng Công an và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại Kết luận định giá tài sản số 55/KL-HĐĐGTS ngày 27/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, kết luận: 01 (Một) xe mô tô, biển kiểm soát: 76G1 – 139.86, nhãn hiệu YAMAHA, loại xe SIRIUS, màu sơn đen – trắng, số máy: 5C6K127816, số khung: C6K0DY127801, mua mới năm 2015, tại thời điểm ngày 28/6/2023, trị giá: 7.000.000 đồng.
Cáo trạng số: 210/CT-VKS ngày 16/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi truy tố Nguyễn Đức Q về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, 65, 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đề nghị xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức Q từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng tù.
Ý kiến tranh luận của người bào chữa cho bị cáo: Thống nhất với tội danh Viện kiểm sát đã truy tố, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức Q từ 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ.
Ý kiến tranh luận của bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo: Bị cáo thống nhất với tranh luận của người bào chữa, bị cáo không có ý kiến bổ sung.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của bị hại và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án nên có cơ sở xác định:
Khoảng 08 giờ 15 phút ngày 28/6/2023, trong lúc đi nộp hồ sơ xin học văn hóa tại Trường Cao đẳng V - Hàn Quốc - Quảng Ngãi, Nguyễn Đức Q đã trộm cắp xe mô tô, biển kiểm soát: 76G1 – 139.86, nhãn hiệu YAMAHA, loại xe SIRIUS, màu sơn đen – trắng của ông Đỗ Thanh S có giá trị 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng). Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi truy tố bị cáo Nguyễn Đức Q phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Đức Q là công dân có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện, bị cáo lợi dụng sự quản lý sơ hở, mất cảnh giác của người có tài sản để trộm cắp tài sản. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội ở địa phương, làm cho quần chúng Nhân dân hoang mang lo sợ.
[3] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trong, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi nên được áp dụng chính sách pháp luật đối với người dưới 18 tuổi phạm tội quy định tại Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, không có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo có ba tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, bị cáo khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi nhận thức pháp luật còn hạn chế. Xét thấy, bị cáo đủ điều kiện cho hưởng án treo theo quy định tại Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 05 năm 2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Nghị quyết số: 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo cũng đủ giáo dục đối với bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[4] Về trách nhiệm dân sự: 01 xe mô tô, biển kiểm soát: 76G1 – 139.86, nhãn hiệu YAMAHA, loại xe SIRIUS, màu sơn đen – trắng, số máy: 5C6K127816, số khung: C6K0DY1 27801, đã qua sử dụng và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy, số 005229 của xe mô tô, biển kiểm soát: 76G1 – 139.86 mang tên Đỗ Thanh S. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Đỗ Thanh S. Ông S đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
01 xe máy điện, màu đen, biển kiểm soát: 76MĐ1 – 010.36, số máy V800W1908190, số máy GSNAJAE01616, đã qua sử dụng. Đây là tài sản của ông Nguyễn Tấn H, không liên quan đến hành vi phạm tội. Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Nguyễn Tấn H.
Đối với Võ Thanh H2: Ngày 28/6/2023, Võ Thanh H2 đi cùng Nguyễn Đức Q trên xe mô tô, biển kiểm soát 76G1-139.86 đến Trường Cao đẳng V - Hàn Quốc - Quảng Ngãi để lấy xe máy điện biển kiểm soát 76MĐ1-01036 về nhà, H2 không biết hành vi trộm cắp xe mô tô biển kiểm soát 76G1-13986 của Nguyễn Đức Q và không biết rõ nguồn gốc xe này nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với hành vi của Võ Thanh H2.
[5] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tại phiên tòa về tội danh, hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhẹ hình sự và các vấn đề khác phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
[6] Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo có một phần phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử. Riêng về hình phạt không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: khoản 1 Điều 173; Điều 50, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, 38, 65, 91, 101 Bộ luật Hình sự của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Điều 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức Q phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức Q 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 10/01/2024).
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Nguyễn Đức Q vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đức Q phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị cáo vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Kim Loan |
Bản án số 02/2024/HS-ST ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 02/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức Q, Trộm cắp
