TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 02/2024/HS-ST Ngày: 10-01-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Trí
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Huy Luận - Chủ tịch Liên đoàn Lao động thành phố P.
- Ông Đỗ Văn Hòa - Cán bộ hưu trí
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Quỳnh Trang - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố P.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Anh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 10 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 226/2023/HSST ngày 28 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 306/2023/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Phan Văn P (Ti Béo); Giới tính: Nam; Sinh năm 1993 tại Bình Thuận; Nơi cư trú: tổ 2, thôn Xuân Phong, xã Phong Nẫm, Tp P, tỉnh Bình Thuận; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 08/12; Nghề nghiệp: đánh nhạc; Cha: Phan Văn T (đã chết); Mẹ: Đỗ Thị L, bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: Ngày 22/5/2020, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xử phạt 30 tháng tù giam về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo Bản án số 33/2020/HS-PT ngày 22/5/2020, chấp hành xong hình phạt ngày 12/5/2022, chưa xóa án tích; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/9/2023, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an Tp. P. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 02/9/2023, Phan Văn P đang làm đánh nhạc (DJ) tại quán bar Paris Night, địa chỉ đường Phạm Hùng, phường Phú Thủy, TP. P, tỉnh Bình Thuận thì có 01 khách nam (không rõ nhân thân) gọi P tới bàn người này ngồi và mời P uống bia nói chuyện. Khoảng 30 phút sau, người này cho P 01 gói thuốc lá hiệu 555 nói bên trong chứa hàng khay (ketamine) đã sử dụng còn dư. P nhận và mở gói thuốc lá thấy có 02 gói nylon bên trong chứa hàng khay do P có sử dụng hàng khay nên biết. P cất vào túi quần đi về nhà. Khoảng 22 giờ 20 phút ngày 05/9/2023, P điều khiển xe mô tô biển số 86B2-108.09 đến quán bar Pari Night. P để gói thuốc lá hiệu 555 có chứa ketamine trong túi quần phía trước bên trái nhằm sử dụng khi có nhu cầu. Khoảng 22 giờ 30 phút, khi P đến nhà số 274 Nguyễn Hội, khu phố 3, phường Xuân An, TP. P thì bị Công an phường Xuân An kiểm tra, P hiện, bắt quả tang, đưa P cùng tang vật gồm 01 gói, có khóa nhựa một đầu, kích thước khoảng (03 x 04) cm, bên trong có chứa chất bột màu trắng; 01 gói nylon, có khóa nhựa kéo một đầu, kích thước khoảng (3,5 x 6,5) cm bên trong chứa tinh thể màu trắng và 01 xe mô tô hiệu honda SH150i biển số 86B2-108.09 về trụ sở làm việc. Tại đây, P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Vật chứng của vụ án: được thu giữ từ Phan Văn P, gồm: 01 gói thuốc lá hiệu 555 bên trong có chứa:
- + 01 gói nylon, có khóa nhựa một đầu, kích thước khoảng (03x04) cm, bên trong có chứa chất bột màu trắng (kí hiệu M1 khi giám định);
- + 01 gói nylon, có khóa nhựa kéo một đầu, kích thước khoảng (3,5x6,5) cm bên trong chứa tinh thể màu trắng được thu giữ trong túi quần phía trước bên trái của P đang mặc (kí hiệu M2 khi giám định).
- - 01 xe mô tô biển số 86B2-10809 hiệu honda SH150i.
Tại Bản kết luận giám định số 1139/KL-KTHS ngày 11/9/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bình Thuận kết luận: Mẫu M1 gửi giám định có khối lượng 1,2779 gam là Ketamine. Mẫu M2 gửi giám định có khối lượng 0,1162 gam là Ketamine.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P giữ nguyên Quyết định truy tố theo Cáo trạng số 216/CT-VKSPT-HS ngày 27/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: bị cáo Phan Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: điểm g khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điểu 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Phan Văn P từ 15 tháng tù đến 21 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên:
Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định.
Bị cáo xác định cáo trạng truy tố là không oan; bị cáo không tranh luận và đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Viện kiểm sát, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan điều tra thành phố P, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.
[2] Về chứng cứ buộc tội bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo Phan Văn P tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 05/9/2023, tại số nhà 274 Nguyễn Hội, Tp P, Phan Văn P có hành vi tàng trữ 1,3941 gam Ketamine. Do đó, Cáo trạng số 216/CT-VKSPT-HS ngày 27 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P truy tố bị cáo Phan Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo biết rõ ma túy là chất gây nghiện, do Nhà nước độc quyền quản lý và luôn nghiêm cấm các hành vi tàng trữ, mua bán trái phép. Thế nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, mà còn gây mất trật tự trị an xã hội, nhất là trong giai đoạn hiện nay tệ nạn ma túy ngày một lây lan, gây ra những hậu quả, hệ lụy nguy hiểm cho xã hội và còn là nguyên nhân gián tiếp dẫn đến việc thực hiện nhiều loại tội phạm khác.
[4] Về tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chưa được xóa án tích nay tiếp tục phạm tội do lỗi cố ý. Bị cáo thuộc trường hợp “tái phạm” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thể hiện thái độ khai báo thành khẩn. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần xem xét áp dụng cho bị cáo.
Trên cơ sở cân nhắc tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo nhận thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm trừng trị, giáo dục bị cáo trở thành người sống có ích cho xã hội.
[5] Về xử lý vật chứng:
Số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1139 là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 xe mô tô biển số 86B2-10809 hiệu honda, thu giữ từ Phan Văn Phát. Quá trình điều tra chứng minh được chủ sở hữu hợp pháp, không phải của P nên đã giao trả cho chủ sở hữu là đúng quy định.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: Điểm g khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Phan Văn P (01) một năm (03) ba tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/9/2023.
Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy một phong bì số 1139 có chứa số ma túy còn lại sau giám định có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng Thích và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận. (Theo biên bản giao nhận vật chứng số 38 ngày 01/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố P).
Về án phí: Áp dụng khoản 02 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc Phan Văn P phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai, có mặt bị cáo. Báo cho biết bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (10-01-2024).
Nơi nhân:
| TM - HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm Phán Chủ Tọa Phiên Tòa Trần Quốc Trí |
Bản án số 02/2024/HS-ST ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH BÌNH THUẬN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 02/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: PHAN VĂN PHÁT TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
