Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 02/2024/HSST

Ngày: 10/01/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Bá
  • Ông Nguyễn Hồng Bốn
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Kim Thị Ngà – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Thân Thị Hồng Nở, kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh, Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 47/2023/HSST, ngày 17 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, Sinh ngày 10 tháng 10 năm 1988, Nơi sinh: huyện M, tỉnh B, Nơi thường trú: ấp H, xã A, huyện M, tỉnh B; Nơi ở hiện tại: ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Nguyễn Văn U, sinh năm 1966 và bà Đinh Thị K, sinh năm 1966; bị cáo có vợ và 01 người con; Tiền án: không; Tiền sự: có 01 tiền sự: Ngày 07/10/2022 bị Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số 3208/QĐ-XPVPHC về hành vi khai thác cát lòng sông mà không có giấy phép khai thác khoáng sản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền số tiền 25.000.000 đồng, bị cáo chưa nộp phạt; Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29/8/2023 cho đến nay. (Bị cáo có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lục Chí Ê, sinh ngày 16/11/1990. Nơi cư trú: ấp P, xã Q, huyện L, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án tóm tắt như sau.

Bị cáo Nguyễn Văn T (tên gọi khác là H) sống bằng nghề làm thuê, thông qua bạn bè bị cáo biết Lục Chí Ê, sinh ngày 16/11/1990, cư trú ấp P, xã Q, huyện L, tỉnh Vĩnh Long có ghe đi bơm hút cát, vận chuyển cát. Khoảng 17 giờ ngày 10/4/2023, Ê sử dụng số điện thoại 0901.344.xxx gọi vào số điện thoại 0787.939.xxx của bị cáo T để thuê đi theo ghe bơm hút cát sông, thỏa thuận trả tiền công một chuyến là 300.000 (Ba trăm nghìn đồng), bị cáo T đồng ý. Khoảng 20 giờ cùng ngày, bị cáo T và Ê xuống ghe gỗ không biển số kiểm soát (ghe do Ê thuê của Lê Minh K, sinh năm 1998, địa chỉ ấp 13, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau) xuất phát tại bến thuộc ấp M, xã Y, huyện C, tỉnh Trà Vinh đi khai thác cát sông. Ê trực tiếp điều khiển ghe đến khu vực tuyến sông Cổ Chiên, thuộc ấp M, xã Y, huyện C, tỉnh Trà Vinh, tìm được vị trí hút cát sông, bị cáo T và Ê cố định phương tiện ghe. Ê đến vị trí mũi ghe thả dây, đưa bộ phận ống hút cát cắm xuống đáy sông và sử dụng bộ kích đề đã kết nối với 02 bình ắc quy đặt ở phần mũi ghe khởi động hệ thống bơm hút cát, thực hiện hút cát từ đáy sông lên khoang chứa của ghe. Ê giao bị cáo T canh nước bơm và trông coi việc hút cát từ ống hút lên khoang chứa của ghe. Khi bị cáo T và Ê đang thực hiện hành vi khai thác cát sông trái phép thì bị Tổ kiểm tra của Công an huyện C phát hiện, ghi nhận sự việc vào lúc 21 giờ 10 phút, ngày 10/4/2023. Do bị cáo T sợ bị bắt và bị xử lý nên đã nhảy xuống sông bơi vào bờ bỏ trốn, còn lại Lục Chí Ê trên ghe gỗ. Khi nhảy xuống sông trốn thì bị cáo T còn để lại trên ghe 02 (hai) điện thoại di động: 01 (một) điện thoại hiệu NOKIA bàn phím số đã qua sử dung, có gắn sim số 0787.939.300 và 01 (một) điện thoại màn hình cảm ứng, hiệu RETMI đã qua sử dụng, có gắn sim để sử dụng kết nối mạng internet.

Qua kiểm tra, Lục Chí Ê không xuất trình được giấy phép khai thác khoáng sản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên lực lượng kiểm tra ghi nhận sự việc vi phạm, đồng thời tiến hành các thủ tục tạm giữ tang vật là cát sông trên khoang chứa theo ghi nhận ban đầu là 2,624 m³ và phương tiện là 01 (một) ghe vỏ gỗ cùng 02 (hai) điện thoại di động nêu trên.

Tại văn bản số 1941/STNMT-QLTNB ngày 29/6/2023, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Trà Vinh cung cấp thông tin như sau: Vị trí khai thác khoáng sản (cát sông) trên thủy phận sống Cổ Chiên tại tọa độ (N:01114062, E:00581028). Tại vị trí này, Ủy ban nhân dân tỉnh Trà Vinh hiện tại không có cấp giấy phép khai thác khoáng sản (cát sông) cho tổ chức hay cá nhân nào. Đối với các vị trí chưa được cấp phép khai thác hoặc khai thác ngoài phạm vi mỏ được cấp giấy phép khai thác là sai quy định.

Ngày 30/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra quyết định trưng cầu Trung tâm Giám định chất lượng xây dựng thuộc Sở xây dựng Đồng Tháp tiến hành giám định mẫu cát sông là tang vật vi phạm do Lục Chí Ê và bị cáo T khai thác. Ngày 20/7/2023, Cơ quan giám định có báo cáo số 200723-2/BCGĐ-TTGĐ, kết luận mẫu vật liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Trà Vinh trưng cầu giám định là loại cát sông hạt mịn.

Tại báo cáo số 10/BC-TTQH&GĐ ngày 28/7/2023 của Trung tâm Quy hoạch và Giám định xây dựng thuộc Sở xây dựng tỉnh Trà Vinh báo cáo kết quả khảo sát hiện trạng phần khối lượng tang vật vi phạm (cát sông) tại bãi tập kết cát: (sau khi tính hệ số điều chỉnh phần hao hụt và lẫn tạp chất) khối lượng phần cát sông được xác định là 2,122 m³.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 04 ngày 22/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Trà Vinh, kết luận tổng giá trị tài sản định giá tại thời điểm ngày 10/4/2023, cát khối lượng 2,122 m³, là 254.640 đồng (Hai trăm năm mươi bốn nghìn, sáu trăm bốn mươi đồng).

Quá trình ghi nhận sự việc và điều tra, Lục Chí Ê khai nhận toàn bộ nội dung diễn biến hành vi vi phạm khai thác khoáng sản cát sông trái phép nêu trên cùng với Nguyễn Văn T.

Tại bản cáo trạng số: 13/CT-VKSTV-P1 ngày 15/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh đã quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên” theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 227 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận toàn bộ hành vi cùng với Lục Chí Ê khai thác cát sông trái phép trên Sông Cổ Chiên bị Công an bắt như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh đã mô tả, bị cáo không bổ sung tài liệu, chứng cứ mới tại phiên tòa hôm nay. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.

Quan điểm của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh: Sau khi phân tích các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả đối chất công khai tại phiên tòa có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên” theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 227 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Vị đại diện Viện kiểm sát quyết định giữ nguyên nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 227; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 09 tháng đến 01 năm tù. Ngoài ra, Vị còn đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu án phí và dành quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Lời nói sau cùng của bị cáo Nguyễn Văn T: Mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa Vị đại diện Viện kiểm sát, những người tham gia tố tụng không bổ sung tài liệu, đồ vật và không đề nghị triệu tập thêm người tham gia tố tụng. Xác định tư cách người tham gia tố tụng theo quyết định đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định của luật Tố tụng hình sự và giới hạn xét xử của Tòa án theo Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự.

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: căn cứ vào khoản 2 Điều 268 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Văn T thừa nhận ngày 07/10/2022, bị cáo bị Ủy ban nhân dân huyện C xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số 3208/QĐ-XPHC) về hành vi khai thác cát lòng sông mà không có giấy phép với số tiền 25.000.000 đồng, đến thời điểm bị cáo cùng Lục Chí Ê thực hiện hành vi khai thác sông lần này là bị cáo chưa nộp phạt. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo hoàn toàn thống nhất kết luận định giá số: 04 ngày 22/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Trà Vinh, kết luận tổng giá trị tài sản định giá tại thời điểm ngày 10/4/2023, cát khối lượng 2,122 m³ là 254.640 đồng (Hai trăm năm mươi bốn nghìn sáu trăm bốn mươi đồng, mặc dù khối lượng cát qua định giá tổng giá trị chưa đủ định lượng trong cấu thành định tội của tội danh này, tuy nhiên trước đó bị cáo Nguyễn Văn T đã bị xử lý hành chính chưa xóa tiền sự, bị cáo chưa chấp hành nộp phạt lại tiếp tục vi phạm, bị cáo đủ năng lực chịu trách hình sự theo quy định Điều 12 Bộ luật Hình sự. Do đó, có cơ sở kết luận rằng hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T phạm vào tội “Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên” theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 227 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó việc Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự quản lý của Nhà nước về khai thác tài nguyên, bị cáo biết hành vi khai thác tài nguyên (cát) là vi phạm pháp luật vì bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “khai thác cát lòng sông mà không có giấy phép khai thác khoáng sản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền” và trước khi bị xử lý hành chính cơ quan xử phạt cũng đã giải thích rõ cho bị cáo biết, nếu đã bị xử phạt hành chính mà còn quy phạm sẽ bị bắt và ra tòa xét xử nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi, thể hiện bị cáo xem thường pháp luật, đồng thời gây ra dư luận không tốt trong quần chúng nhân dân, bởi hiện nay tình trạng các tổ chức, cá nhân ngang nhiên khai thác tài nguyên, khoáng sản trong khi không được sự cấp phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm mục đích hưởng lợi ngày càng gia tăng và quy mô ngày càng lớn và là nguyên nhân dẫn đến thay đổi dòng chảy gây nên sạt lở nghiêm trọng hai bên bờ sông Cổ Chiên trong những năm qua, do đó Lãnh đạo của tỉnh đã chỉ đạo tuần tra bắt và xử lý nghiêm các hành vi khai thác cát sông không phép xử lý nghiêm minh lập lại kỹ cương trấn an dư luận. Nên Hội đồng xét xử cân phải xử lý nghiêm, có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội thời gian nhất định nhằm để giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt và có tác dụng phòng ngừa chung cho xã hội đối với hành vi tương tự để nhằm phục vụ nhiệm vụ chính tại địa phương.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cho bị cáo, Hội đồng xét xử cũng cần xem xét, đánh giá và áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để xem xét một cách toàn diện khách quan nội dung vụ án cũng như về hành vi và hậu quả do bị cáo gây ra. Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật Hình sự; về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành thật khai báo, ăn năn hối cải; hoàn cảnh khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình nuôi con nhỏ, gia đình bị cáo có nhiều người có công với nước. Đây là các tình tiết giảm nhẹ cần được áp dụng cho bị cáo theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thẩm tra các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, thấy rằng các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều đúng với quy định của pháp luật, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại hoặc có ý kiến nào khác phản đối các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nên các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tố tụng đều hợp pháp.

Do Lục Chí Ê vi phạm lần đầu, khối lượng cát qua định giá không đủ định lượng trong cấu thành tội phạm nên chuyển sang xử lý theo luật xử phạt vi phạm hành chính là đúng theo quy định.

Đối với phương tiện và khối lượng cát cơ quan có thẩm quyền đã giải quyết xong nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh là phù hợp quy định pháp luật cũng như nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm a khoản 2 Điều 268, Điều 269 và Điều 299 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên”.

Căn cứ: điểm đ khoản 1 Điều 227; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

“Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án”.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày án sơ thẩm đã tuyên.

Nơi nhận:

  • - TANDCC;
  • - VKSNDCC;
  • - VKSND tỉnh Trà Vinh;
  • - Phòng hồ sơ - CA tỉnh Trà Vinh;
  • - Cục THADS tỉnh Trà Vinh;
  • - CA tỉnh Trà Vinh;
  • - Những người TGTT;
  • - Lưu;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2024/HSST ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về vi phạm quy định về khai thác tài nguyên

  • Số bản án: 02/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về khái thác tài nguyên
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger