|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 02/2024/HNGĐ-ST Ngày: 10 - 01 - 2024 V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trí Chinh;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đàm Thị Thanh Thủy;
Ông Đoàn Xuân Hòa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Mai - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
Ngày 10 tháng 01 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 76/2023/TLST-HNGĐ ngày 07/12/2023 về việc: “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 65/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Vũ Thị Hoài T; sinh năm 1985; nơi cư trú: Khu E, phường P, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt (có đơn xin xử vắng mặt).
- Bị đơn: anh Diệp Thế C (Diep T); sinh năm 1977; nơi cư trú: Số E Kaputan Court B, Australia; vắng mặt (có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn, bản tự khai, nguyên đơn chị Vũ Thị Hoài T trình bày:
Chị và anh Diệp Thế C (Diep T) đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện ngày 04/10/2017 tại Ủy ban nhân dân thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn, anh C về nước sinh sống và làm việc. Chị T đã nhiều lần làm hồ sơ để sang Úc đoàn tụ với chồng nhưng đều không được Bộ di trú của nước Úc chấp nhận. Sau đó, do dịch bệnh Covid-19 nên anh C không thể về Việt Nam thăm chị T. Từ đó đến nay, vợ chồng ít liên lạc do chênh lệch múi giờ, dần dần tình cảm phai nhạt dần. Vì vậy, chị T nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh giải quyết cho chị được ly hôn với anh Diệp Thế C (Diep T).
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: vợ chồng đều không có nên chị T không đề nghị Tòa án giải quyết.
2
Tại Bản tự khai của anh Diệp Thế C (D) (đã hợp pháp hóa lãnh sự tại T1 tại P, Ô-xtrây-li-a) thể hiện: nội dung phù hợp với quan điểm của chị Vũ Thị Hoài T trình bày nêu trên. Anh Diệp Thế C (Diep T) đồng ý ly hôn với chị Vũ Thị Hoài T.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: vợ chồng đều không có nên anh Diệp Thế C (Diep T) không đề nghị Tòa án giải quyết.
Do điều kiện công việc nên anh đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh không tiến hành hòa giải và xin được vắng mặt anh trong tất cả các buổi làm việc và phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy:
[1] Về tố tụng: chị Vũ Thị Hoài T và anh Diệp Thế C (Diep T) đều vắng mặt tại phiên tòa nhưng đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Vũ Thị Hoài T và anh Diệp Thế C (Diep T) là phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng.
[2] Về quan hệ hôn nhân: căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn của Ủy ban nhân dân thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh thì chị Vũ Thị Hoài T và anh Diệp Thế C (Diep T) đăng kí kết hôn ngày 04/10/2017. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.
Sau khi kết hôn, anh C về nước sinh sống và làm việc. Chị T đã nhiều lần làm hồ sơ để sang Úc đoàn tụ với chồng nhưng đều không được Bộ di trú của nước Úc chấp nhận. Sau đó, do dịch bệnh Covid-19 nên anh C không thể về Việt Nam thăm chị T. Từ đó đến hai hai vợ chồng ít liên lạc, tình cảm phai nhạt dần. Chị T xin ly hôn, anh C đồng ý ly hôn. Xét thấy việc thuận tình ly hôn của chị T và anh C là hoàn toàn tự nguyện, hai anh chị đều xác định hai bên mục đích hôn nhân không đạt được, không có khả năng đoàn tụ nên Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị T và giải quyết cho chị T được ly hôn với anh C là phù với quy định tại Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
[3] Về con chung, tài sản chung và nợ chung: chị Vũ Thị Hoài T và anh Diệp Thế C (Diep T) đều khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về án phí: chị Vũ Thị Hoài T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
3
Căn cứ vào: Điều 51; Điều 56 và khoản 2 Điều 123 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 273 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Vũ Thị Hoài T.
- Về quan hệ hôn nhân: chị Vũ Thị Hoài T được ly hôn anh Diệp Thế C (Diep T).
- Về án phí dân sự sơ thẩm: chị Vũ Thị Hoài T phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số: 0005713 ngày 07/12/2023 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh.
Án xử công khai sơ thẩm, báo cho: chị Vũ Thị Hoài T biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật; anh Diệp Thế C (Diep T) biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trí Chinh |
Bản án số 02/2024/HNGĐ-ST ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn
- Số bản án: 02/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/01/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Thị Hoài T - Diệp Thế C (Diệp T)
