Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập-Tự do-Hạnh phúc

Bản án số: 02/2024/HS-ST

Ngày: 10.01.2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Hữu

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sanh

Ông Nguyễn Xuân Tùng

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lành

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Đinh Ngọc Vĩnh - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 127/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 114/2023/HSST-QĐ ngày 28 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Đặng Trần C. Tên gọi khác: R. Sinh ngày: 24.11.1996 tại Đà Nẵng. Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: 111 H 6, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: lao động phổ thông; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đặng Văn T (chết) và bà Trần Thị G (Sn: 1964). Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ 3.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 04/10/2022 bị UBND phường H, quận C ban hành Quyết định số 376/QĐXP về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chấp hành xong ngày 25/10/2022.

Bị bắt tạm giam ngày 07.9.2023. Có mặt tại phiên tòa.

Người chứng kiến: Anh Lê Thành N, sinh năm 1992.

Địa chỉ: Tổ 41, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 24.8.2023, Đặng Trần C đến quán bar Top TV club chơi thì được một người tên H không xác định nhân thân lai lịch quen biết ngoài xã hội trước đó cho 01 gói nilông chứa 10 viên ma túy thuốc lắc và 01 gói nilông chứa ½ năm ma túy ketamine. C đem về nhà cất giấu. Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 07.9.2023, C mang số ma túy trên bỏ vào hộp thuốc lá Caraven rồi cất vào túi quần Jear phía trước bên trái và điều khiển xe mô tô biển số 43C1-817.48 đến trước nhà số 16 L, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hải Châu phát hiện, bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ:

  • - 01 gói ni lông chứa 10 viên nén và 01 gói nilông chứa các tinh thể rắn màu trắng (đã được niêm phong ký hiệu A);
  • - 01 xe mô tô hiệu Honda SH 1251, màu trắng đen, số máy JF73E0113009, số khung RLHJF7305GY112943, dung tích xi lanh 124.9cm³, biển số 43C1-817.48;
  • - 01 điện thoại di động Sam sung A02 màu đen, Imei 351389226744300.
  • - Kết quả thử test ngày 07.9.2023 xác định Đặng Trần C dương tính với chất ma túy.

Tại kết luận giám định số: 782/KLMT-KTHS ngày 15.9.2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng xác định: Mẫu A được chia thành Mẫu A1: 07 viên nén màu xanh; Mẫu A2: 02 viên nén màu trắng; Mẫu A3: 01 viên nén màu cam; Mẫu A4: tinh thể rắn màu trắng đựng trong 01 gói nilông.

Kết luận: Các viên nén màu xanh ký hiệu A1, các viên nén màu trắng ký hiệu A2 gửi giám định là ma túy loại MDMA, khối lượng mẫu A1: 2,314 gam, mẫu A2: 0,845 gam; Viên nén màu cam ký hiệu A3 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu A3: 0,476 gam; Tinh thể rắn màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, khối lượng mẫu A4: 1,363 gam.

Tổng khối lượng 03 chất ma túy là 3,159 gam MDMA; 0,476 gam ma túy Methamphetamine; 1,363 gam ma túy Ketamine.

Quá trình điều tra, Đặng Trần C đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của C phù hợp với lời khai người chứng kiến, vật chứng thu giữ và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại phiên tòa người chứng kiến vắng mặt, Tòa án đã tiến hành công bố lời khai của người này có trong hồ sơ vụ án, được bị cáo C xác nhận là đúng.

Tại Cáo trạng số 119/CT- VKS ngày 16.11.2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Đặng Trần C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Đặng Trần C, đề nghị áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Đặng Trần C mức án từ 18 tháng tù đến 24 tháng tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về xử lý vật chứng: Đối với xe mô tô hiệu Honda SH 1251, màu trắng đen, số máy JF73E0113009, số khung RLHJF7305GY112943, dung tích xi lanh 124.9cm³, biển số 43C1-817.48; 01 điện thoại di động Sam sung A02 màu đen, Imei 351389226744300 thu giữ của Đặng Trần C đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong đựng mẫu hoàn trả còn lại theo Kết luận giám định số 782/KLMT-KTHS ngày 15.9.2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng

Bị cáo Đặng Trần C thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội và xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt người chứng kiến anh Lê Thành N. Xét thấy hồ sơ đã thu thập đầy đủ ý kiến, lời khai của họ nên sự vắng mặt của người này không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hải Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, lời khai của người chứng kiến vắng mặt tại phiên tòa không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm và diễn biến của quá trình bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 07.9.2023, tại trước nhà số 16 L, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hải Châu phát hiện, bắt quả tang Đặng Trần C có hành vi tàng trữ trái phép 3,159 gam ma túy MDMA; 0,476 gam ma túy Methamphetamine; 1,363 gam ma túy Ketamine để sử dụng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

[4] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, biết rất rõ tác hại của ma túy. Ma túy làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ thần kinh, tạo ra ảo giác, là tác nhân gây ra các tệ nạn xã hội, được nhà nước quản lý nghiêm nhưng bị cáo vẫn sử dụng trái phép chất ma túy nên cần cách ly bị cáo một thời gian để giáo dục răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thì thấy:

Về tình tiết tăng nặng: Không.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, biết ăn năn hối cải; bị cáo hoàn thành nghĩa vụ tham gia công an nhân dân năm 2018, đây là là tình tiết giảm nhẹ thuộc điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có thu nhập ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với người có tên H là người đã cho Đặng Trần C ma túy, do hiện nay chưa xác định được lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hải Châu tiếp tục điều tra xử lý sau là phù hợp.

[7] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 bì niêm phong đựng mẫu hoàn trả còn lại theo Kết luận giám định số 782/KLMT-KTHS ngày 15.9.2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng là vật cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu, tiêu hủy.

- Trả lại 01 xe mô tô hiệu Honda SH 1251, màu trắng đen, số máy JF73E0113009, số khung RLHJF7305GY112943, dung tích xi lanh 124.9cm³, biển số 43C1-817.48; 01 điện thoại di động Sam sung A02 màu đen, Imei 351389226744300 thu giữ của Đặng Trần C do không liên quan đến hành vi phạm tội.

[8] Từ những nhận định trên, xét thấy lời luận tội của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu về tội danh và áp dụng các điều luật là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Đặng Trần C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  2. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

    Xử phạt: Bị cáo Đặng Trần C 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07.9.2023.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu, tiêu hủy đối với 01 bì niêm phong đựng mẫu hoàn trả còn lại theo Kết luận giám định số 782/KLMT-KTHS ngày 15.9.2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng.
    • - Trả lại 01 xe mô tô hiệu Honda SH 1251, màu trắng đen, số máy JF73E0113009, số khung RLHJF7305GY112943, dung tích xi lanh 124.9cm³, biển số 43C1-817.48; 01 điện thoại di động Sam sung A02 màu đen, Imei 351389226744300 cho Đặng Trần C.

    (Theo quyết định chuyển vật chứng số 93/QĐ-VKS ngày 16.11.2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 09.01.2024).

  4. Về án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Đặng Trần C phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận :

  • - Bị cáo;
  • - VKSND Quận Hải Châu;
  • - Chi cục THADS quận Hải Châu;
  • - Lưu hồ sơ, VT.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Hữu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2024/HS-ST ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 02/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Đặng Trần C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” . Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Bị cáo Đặng Trần C 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07.9.2023. 5 2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: - Tịch thu, tiêu hủy đối với 01 bì niêm phong đựng mẫu hoàn trả còn lại theo Kết luận giám định số 782/KLMT-KTHS ngày 15.9.2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng. - Trả lại 01 xe mô tô hiệu Honda SH 1251, màu trắng đen, số máy JF73E0113009, số khung RLHJF7305GY112943, dung tích xi lanh 124.9cm3 , biển số 43C1-817.48; 01 điện thoại di động Sam sung A02 màu đen, Imei 351389226744300 cho Đặng Trần C. (Theo quyết định chuyển vật chứng số 93/QĐ-VKS ngày 16.11.2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 09.01.2024). 3. Về án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Đặng Trần C phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm. 4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger