TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 02/2024/HNGĐ-ST Ngày: 10/01/2024 Tranh chấp xin ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Nguyễn Thanh Huy;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đoạt;
Bà Phạm Hồng Gái.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thành Minh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Thuộc trường hợp Viện Kiểm sát không tham gia phiên tòa.
Ngày 10 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 650/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2023 về tranh chấp xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 213/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Thị Cẩm T, sinh năm: 1998. Địa chỉ: Ấp A, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang (Có đơn xin vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Danh Đ, sinh năm: 1990. Địa chỉ: Số nhà C ấp T, xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn chị Thị Cẩm T trình bày như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2022, chị Thị Cẩm T và anh D Đều tự tìm hiểu và yêu thương nhau, sau đó tiến đến hôn nhân, được hai bên gia đình thống nhất tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân (UBND) xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 86/2022 ngày 22/4/2022. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị về sinh sống tại ấp T, xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang. Thời gian sau, vợ chồng cùng đi làm trên Đồng Nai.
Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng rất hạnh phúc, đến tháng 4/2023 giữa chị và anh Đ phát sinh mâu thuẫn, do không có tiếng nói chung, nên anh Đ đã bỏ chị T một mình trên Đồng Nai và về nhà cha mẹ ruột tại ấp T, xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang sinh sống cho đến nay. Vì các lý do trên, chị nhận thấy vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Danh Đ.
- Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống với nhau, chị và anh Đ chưa có con chung, nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị T xác nhận quá trình chung sống chị và anh Đ không có tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Bị đơn anh D Đều trình bày:
Anh Đ cho rằng giữa anh và chị T quen biết nhau là do có người dượng bên vợ của T mai mối, sau đó hai bên tìm hiểu, yêu thương và đi đến hôn nhân, kết hôn như chị T trình bày
Về con chung, nợ chung và mâu thuẫn dẫn đến yêu cầu xin ly hôn giữa vợ chồng anh chị là đúng.
Đối với yêu cầu khởi kiện của chị T, anh có ý kiến như sau:
- Về hôn nhân: Anh cho rằng mâu thuẫn giữa anh và chị T không lớn, nên anh không đồng ý ly hôn với chị Thị Cẩm T.
- Về con chung: Anh và chị T chưa có con chung, nên không yêu cầu Tòa giải quyết.
- Về tài sản chung: Anh và chị T tự thỏa thuận, nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về nợ chung: Anh và chị T không nợ chung, nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại phiên toà:
- Về hôn nhân: Anh đồng ý ly hôn với chị Thị Cẩm T.
- Về con chung: Anh và chị T chưa có con chung, nên không yêu cầu Tòa giải quyết.
- Về tài sản chung: Anh và chị T tự thỏa thuận, nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về nợ chung: Anh và chị T không nợ chung, nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung đơn khởi kiện chị Thị Cẩm T yêu cầu được ly hôn với anh Danh Đ. Xét thấy đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn anh D Đều có nơi cư trú tại ấp T, xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Thị Cẩm T có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, HĐXX quyết định tiến hành xét xử trong trường hợp vắng mặt nguyên đơn tại phiên tòa.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án, HĐXX có cơ sở xác định: Chị Thị Cẩm T và anh D Đều do có người mai mối, sau đó tìm hiểu, yêu thương nhau, tiến đến hôn nhân, được hai bên gia đình thống nhất tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn và được UBND xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 86/2022 ngày 22/4/2022. Như vậy, hôn nhân giữa chị Thị Cẩm T với anh D Đều là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Xét yêu cầu của chị T về việc xin ly hôn với anh Đ thấy rằng: Trong quá trình chung sống giữa chị T và anh Đ có phát sinh mâu thuẫn, mà theo chị T cho rằng do chị và anh Đ bất đồng về quan điểm sống, không có tiếng nói chung, nên từ đầu tháng 4/2023 anh Đ đã bỏ chị một mình đi làm ở Đồng Nai và về nhà cha mẹ ruột của anh Đ sống tại ấp T, xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang sinh sống cho đến nay. Chị T xác định trong thời gian chị và anh Đ sống ly thân với nhau, thì giữa chị và anh Đ không còn quan tâm, chăm sóc nhau nữa, cũng không thực hiện quyền và nghĩa vụ chung của vợ chồng.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành giải thích pháp luật và động viên để hai bên đoàn tụ gia đình, nhưng chị T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn với anh Đ. Đồng thời, tại phiên toà anh Đ cũng có ý kiến đồng ý ly hôn với chị T.
Từ đó cho thấy mối quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh Đ đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn và mục đích hôn nhân không đạt được, nên việc chị T yêu cầu được ly hôn với anh Đ là có cơ sở. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, HĐXX chấp nhận cho chị Thị Cẩm T được ly hôn với anh Danh Đ.
[3.2] Về quan hệ con chung: Chị T và anh Đ thống nhất trong quá trình chung sống giữa anh chị chưa có con chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên HĐXX không giải quyết.
[3.3] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung:
- Về tài sản chung: Anh Đ trình bày giữa anh và chị T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết, nên HĐXX không giải quyết.
- Về nợ chung: Chị T và anh Đ xác nhận giữa anh chị không có nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên HĐXX không giải quyết.
[4] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì chị Thị Cẩm T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Thị Cẩm T được ly hôn với anh Danh Đ.
- Về quan hệ con chung: Chị T và anh Đ thống nhất trong quá trình chung sống giữa anh chị chưa có con chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung:
- Về tài sản chung: Anh Đ trình bày giữa anh và chị T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết, nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
- Về nợ chung: Chị T và anh Đ xác nhận giữa anh chị không có nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Buộc chị Thị Cẩm T phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị T đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004077 ngày 11 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Chị Thị Cẩm T không phải nộp thêm.
- Quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện Hòn Đất; - THADS huyện Hòn Đất; - UBND xã Định An, Gò Quao, Kiên Giang; - Các đương sự; - Lưu HSVA./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lâm Nguyễn Thanh Huy |
Bản án số 02/2024/HNGĐ-ST ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp xin ly hôn
- Số bản án: 02/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/01/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Thị Cẩm Tr kiện Danh Đ
