|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI TỈNH QUẢNG NGÃI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 02/2024/HS-ST Ngày 09/01/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Hồng Ánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hoàng Minh Tân;
2. Bà Nguyễn Thị Thanh.
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hạ Quyên - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Nhật T - Kiểm sát viên.
Vào ngày 09 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 198/2023/HS-ST ngày 20/10/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 139/2023/QĐXXST-HS ngày 17/11/2023 đối với bị cáo:
Bùi Thị T, sinh ngày 01/10/1962; nơi cư trú: Thôn P, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; trình độ học vấn: 02/12; nghề nghiệp: Không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Bùi P (chết) và bà Mai Thị Đ (chết); bị cáo có chồng, có 07 (bảy) con, lớn nhất sinh năm 1982, nhỏ nhất sinh năm 1995; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 27/10/2006 bị Tòa án nhân dân huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định xử phạt 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 22/4/2013 bị Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xử phạt 05 (năm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 23/6/2015 bị Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xử phạt 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 21/02/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 09/8/2020, bị Công an xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi “Đánh bạc”; bị cáo bị tạm giữ từ 04/8/2023 đến ngày 11/8/2023; bị cáo tại ngoại, có mặt.
- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Thục T2, sinh năm 1994; địa chỉ: Số F, đường N, tổ D, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.
- Người làm chứng: Bà Đỗ Thị Thu L, năm 1979; địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
[1] Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 04/8/2023, Bùi Thị T đi xe buýt từ xã B, huyện B đến trạm xe buýt khách sạn S, thành phố Q và tiếp tục đi bộ đến chợ T3 thuộc tổ A, phường T, thành phố Q để trộm cắp tài sản. Đến khoảng 08 giờ 20 phút cùng ngày, tại khu vực chợ T3, Bùi Thị T nhìn thấy chị Nguyễn Thị Thục T2 đang đeo một túi xách sau lưng nên đi theo chị T2, lợi dụng trong chợ lúc đông người, T chen lấn, áp sát phía bên trái chị T2 và dùng tay trái mở dây kéo khóa túi xách, lấy trộm 01 điện thoại di động Apple iPhone 11, màu xanh bên trong túi xách. Lúc này, bà Đỗ Thị Thu L đang buôn bán trong chợ phát hiện T lấy trộm điện thoại của chị T2 nên thông báo cho chị T2 biết; chị T2 kiểm tra túi xách, phát hiện bị mất điện thoại di động nên truy hô lên. Khi bị phát hiện, T hoảng sợ nên thả điện thoại của chị T2 xuống đất, làm rạn nứt màn hình. Sau đó, mọi người trong chợ bắt giữ T và báo tin cho Công an phường T đến làm việc, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T.
Tại Kết luận định giá tài sản số 61/KL-HĐĐGTS ngày 09/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Q kết luận về tài sản định giá như sau: 01 điện thoại di động hiệu Apple iPhone 11, màu xanh, tại thời điểm ngày 04/8/2023 trị giá 6.000.000 đồng.
* Đồ vật, tài liệu thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple iPhone 11, màu xanh, màn hình bị rạn nứt (Đã qua sử dụng)
[2] Bản cáo trạng số 181/CT-VKS, ngày 17/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi truy tố bị cáo Bùi Thị T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi giữ nguyên quyết định truy tố; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo T phạm tội “Trộm cắp tài sản”; áp dụng Khoản 1 Điều 173, các điểm b, s Khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo T từ 12 đến 15 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là đúng quy định của pháp luật.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã có hành vi lợi dụng sơ hở của bị hại, lén lút lấy trộm tài sản là 01 điện thoại trong túi xách của chị Nguyễn Thị Thục T2. Theo Kết luận định giá tài sản số 61/KL-HĐĐGTS ngày 09/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Q kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Apple iPhone 11, màu xanh, tại thời điểm ngày 04/8/2023 trị giá 6.000.000 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo; tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; chồng của bị cáo là thương binh nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s Khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản".
[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự an toàn xã hội. Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân thủ pháp luật, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới, đồng thời giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm.
[5] Về phần dân sự: Chị T2 đã nhận lại 01 điện thoại di động hiệu Apple iPhone 11, màu xanh và số tiền 7.000.000 đồng do bị cáo bồi thường, không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về xử lý vật chứng: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple iPhone 11, màu xanh, màn hình bị rạn nứt (đã qua sử dụng), đây là điện thoại bị cáo T trộm cắp của chị T2, Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an thành phố Q trả lại cho chị T2 là đúng quy định của pháp luật.
[7] Về án phí: Bị cáo T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[8] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi về tội danh, hình phạt đối với bị cáo có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173, các điểm b, s Khoản 1, 2 Điều 51, các Điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự; các Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tuyên xử:
- Tuyên bố bị cáo Bùi Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Bùi Thị T 01 (một) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 04/8/2023 đến ngày 11/8/2023.
- Buộc bị cáo Bùi Thị T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Hồng Ánh |
Bản án số 02/2024/HS-ST ngày 09/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 02/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo T móc túi lấy điện thoại của chị T2
