|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ TẺH TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 02/2024/HS-ST Ngày: 09-01-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ TẺH
-
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tiến Dũng.
Các hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Hồng Loan – Bà Nguyễn Thị Loan.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Út – Thư ký của Tòa án án nhân dân huyện Đạ Tẻh – Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đạ Tẻh - Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thúy Hồng – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 01 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2023/TLST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2023; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2023/QĐXXST – HS ngày 28 tháng 11 năm 2023; theo Thông báo về việc thay đổi thời gian mở piên tòa 05/TB-HS ngày 11 tháng 12 năm 2023 và theo Quyết định hoãn phiên toà số 07/2023/HSST-QĐ ngày 27 tháng 12 năm 2023 đối với:
- Bị cáo Kiều Văn L, sinh ngày 16/10/1985 tại: Nam Định. Nơi cư trú: Thôn A, xã M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Nghề nghiệp: Thợ cơ khí. Trình độ văn hóa: 8/12. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Con ông Kiều Văn L1 (đã chết) và bà Kiều Thị H, sinh năm 1956; Vợ: đã ly hôn; Con: có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: không. Về nhân thân: Ngày 24/2/2004 TAND tỉnh Lâm Đồng tuyên phạt 06 năm tù về tội Cướp tài sản; Ngày 27/11/2015 TAND huyện Đạ Tẻh tuyên phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản – đã chấp hành xong. Hiện bị cáo đang bị cấm đi khỏi nơi cư trú. “Có mặt".
- Bị cáo Ngô Văn Q, sinh ngày: 8/4/1990 tại: Lâm Đồng. Nơi cư trú: Thôn H, xã Q, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Con ông Ngô Văn T, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1961; Vợ: Cao Thị V1, sinh năm 1986; Con: có 01 con, sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: không; Về nhân thân: Ngày 13/4/2021 bị Trưởng Công an xã Q, huyện Đ ra quyết định xử phạt hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi đánh nhau, đã chấp hành xong ngày 26/5/2021. Hiện bị cáo đang bị cấm đi khỏi nơi cư trú. “Có mặt”.
- Bị cáo Nguyễn Phương N, sinh ngày: 20/6/1996 tại: Hà Tĩnh. Nơi cư trú: Thôn H, xã Q, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không. Con ông Nguyễn Đình K – SN: 1974 và bà Nguyễn Thị N1 – SN: 1976; Vợ Nguyễn Thị L2 – SN: 1994; Con: có 01 con, sinh năm 2022. Tiền án, tiền sự: không. Hiện bị cáo đang bị cấm đi khỏi nơi cư trú. “Có mặt”.
- Bị cáo Nguyễn Thế S, sinh ngày: 20/8/1990 tại: Lâm Đồng. Nơi cư trú: Thôn H, xã Q, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Nghề nghiệp: Làm ruộng. Trình độ văn hóa: 11/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không. Con ông Nguyễn Ngọc C (đã chết) và bà Đào Thị V2, sinh năm 1957; Vợ: Hoàng Thị N2 – SN: 2000; Con: có 02 con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2019. Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 19/8/2019, bị TAND huyện Đạ Tẻh tuyên phạt 30.000.000đồng về tội “Đánh bạc”. Bị cáo đã chấp hành xong. Hiện bị cáo đang bị cấm đi khỏi nơi cư trú. “Có mặt”.
- Bị cáo Tạ Quang T1, sinh ngày: 26/6/1986 tại: Thanh Hóa. Nơi cư trú: Thôn X, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Nghề nghiệp: Làm ruộng. Trình độ văn hóa: 11/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Con ông Tạ Quang H1 – SN: 1954 và bà Hoàng Thị H2, (đã chết); Vợ: Nguyễn Thị H3 – SN: 1993; Con: có 02 con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2021. Tiền án, tiền sự: không; Về nhân thân: Ngày 10/4/2016 Công an huyện Đ xử phạt hành chính số tiền 1.500.000đồng về hành vi đánh bạc, bị cáo đã chấp hành xong. Hiện bị cáo đang bị cấm đi khỏi nơi cư trú. “Có mặt”.
- Bị cáo Phạm Viết T2, sinh ngày: 6/3/1985 tại: Nam Định. Nơi cư trú: Thôn X, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Nghề nghiệp: Làm rẫy. Trình độ văn hóa: 3/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không. Con ông Phạm Văn L3 – SN: 1957 và bà: Vũ Thị P – SN: 1961; Vợ: Phạm Thị H4 – SN: 1990; Con: có 2 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2014. Tiền án: 01, ngày 23/02/2022, bị TAND huyện Đạ Tẻh tuyên phạt 30.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”, chưa được xóa án tích. Tiền sự: Không. Hiện bị cáo đang bị cấm đi khỏi nơi cư trú. “Có mặt”.
- Bị cáo Phạm Thành L4, sinh ngày: 01/01/1969 tại: Khánh Hòa. Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Làm thuê. Trình độ văn hóa: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Thiên chúa. Con ông Phạm Văn T3 – SN: 1931 và bà Đường Thị M – SN: 1942, (cả hai đã chết); Vợ: Đã ly hôn. Con: có 02 con, lớn sinh 2007, nhỏ sinh năm 2009. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 15/04/2016 bị TAND huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tuyên phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”, đã chấp hành xong. Hiện bị cáo đang bị cấm đi khỏi nơi cư trú. “Có mặt”.
- Bị cáo Nguyễn Anh T4, sinh ngày: 20/12/1984 tại: Bến Tre. Nơi cư trú: Ấp D, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Làm rẫy. Trình độ văn hóa: 12/12. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: Không. Con ông Nguyễn Ngọc T5 – SN: 1952 và bà Nguyễn Thị H3 – SN: 1957; Vợ: Võ Thị L5 – SN: 1992. Con: có 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ 2019. Tiền án, tiền sự: Không. Hiện bị cáo đang bị cấm đi khỏi nơi cư trú. “Có mặt”.
- Bị cáo Nguyễn Mạnh H5, sinh ngày: 20/12/1990 tại: Lâm Đồng. Đăng ký HKTT: Thôn Y, xã M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Nơi đăng ký tạm trú: Số A, hẻm A, N - KP B, phường B, TP T, TP Hồ Chí Minh. Nơi ở hiện tại: Số A, hẻm A, N - KP B, phường B, TP T, TP Hồ Chí Minh. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: 9/12. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Con ông Nguyễn Ngọc O – SN: 1940 và bà Lại Thị L6 – SN: 1954; Vợ: Thái Thị Nhã P1 – SN: 1993; Con: có 02 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2016; Tiền án: Ngày 23/09/2016, bị TAND TP Thuận An, tỉnh Bình Dương tuyên phạt 08 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”- chưa được xóa án tích. Tiền sự: Không. Hiện bị cáo đang bị cấm đi khỏi nơi cư trú. “Có mặt".
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Anh Lê Quang M1 – Sinh năm 1989. Địa chỉ: Thôn H, xã Q, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. “Có mặt”.
- Anh Bùi Ngọc Á – Sinh năm 1973. Địa chỉ: TDP I, TT. Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. “Có mặt”.
- Anh Đoàn Văn C1 – Sinh năm 1973. Địa chỉ: Tổ dân phố I, thị trấn Đ, huyện Đ, Lâm Đồng. “Có mặt”.
* Người làm chứng:
- Anh Đỗ Đăng T6 – Sinh năm 1995. Địa chỉ: Thôn H, xã Q, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. “Vắng mặt”.
- Anh Vũ Văn T7 – Sinh năm 1992. Địa chỉ: Thôn H, xã Q, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. “ Có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trước đó, Ngô Văn Q, Kiều Văn L thông qua các mối quan hệ xã hội, lấy tài khoản cá cược bóng đá từ người sử dụng số thuê bao số điện thoại 0338.307.xxx với tài khoản zalo tên "Cá Mập" 01 tài khoản bóng đá tại trang Web “viva88.com” với tên đăng nhập "DUP45601014" và mật khẩu: "Tttt1414" với hạn mức là 2.000 điểm, 01 điểm tương đương với 25.000đ và 01 tài khoản: "DUP45601003" và mật khẩu: "Tttt0303" để tham gia cá cược bóng đá thắng thua bằng tiền đối với các trận đấu bóng đá giữa đội tuyển Croatia và B1 khai mạc lúc 22 giờ 00' ngày 09/12/2022 (giờ Việt Nam) và trận đấu bóng đá giữa đội tuyển Argentina và Hà Lan diễn ra lúc 2 giờ 00 ngày 10/12/2022 (giờ Việt Nam) trong khuân khổ tứ kết Giải vô địch bóng đá thế giới 2022 hay còn gọi là World Cup năm 2022 và trận đấu giữa câu lạc bộ P2 và câu lạc bộ C3 diễn ra lúc 1h12' ngày 09/12/2022 (giờ Việt Nam) tại giải Seri B của Ý.
Thông qua tin nhắn điện thoại, tin nhắn ứng dụng Zalo và gọi điện thoại trực tiếp Kiều Văn L và Ngô Văn Q nhận mua bán cá độ bóng đá, thắng thua bằng tiền của nhiều người. Cụ thể như sau:
Vào ngày 09 và 10/12/2022, Kiều Văn L sử dụng thuê bao điện thoại số 0386.909.xxx đăng ký tên Z “Kiều Mạnh L7” để nhận tin nhắn mua bán kèo cá độ bóng đá theo kết quả 02 trận đấu bóng đá giữa đội tuyển quốc gia C4 và B và trận đấu bóng đá giữa đội tuyển quốc gia A1 và Hà Lan.
Đối với trận C2 và B diễn ra lúc 22h00 ngày 09/12/2022,
Phạm Viết T2 sử dụng tài khoản zalo tên “Pham Tuong” đăng ký bằng số điện thoại 0337.970.xxx nhắn tin với Kiều Văn L mua cá cược 06 “kèo”, số tiền mua cá cược là: 36.500.000 đồng, T2 thắng được 02 “kèo” với số tiền là 10.800.000 đồng. T2 thua lại 04 kèo với số tiền là: 19.500.000 đồng, K1 thục trận đấu, T2 thua L 8.700.000 đồng. Số tiền T2 đánh bạc trận đấu này là 47.300.000 đồng.
Tạ Quang T1, sử dụng thuê bao điện thoại số 0868.101.xxx nhắn tin đánh bạc với Kiều Văn L mua cá cược với L 06 “kèo”, số tiền T1 mua cá cược trận đấu này là: 17.000.000 đồng, T1 thắng được 01 “kèo” với số tiền là 5.400.000 đồng, thua 5 kèo số tiền: 11.000.000 đồng. Kết thúc trận đấu T1 thua L 5.600.000 đồng. Tổng số tiền T1 đánh bạc trận đấu này là 22.400.000 đồng.
Phạm Thành L4 sử dụng thuê bao điện thoại số 0354.506.xxx nhắn tin với Kiều Văn L mua cá cược với L 04 “kèo”. Số tiền L4 mua cá cược trận đấu này là: 10.000.000 đồng. Lễ thắng được 01 kèo với số tiền là 2.700.000 đồng, thua 03 kèo 7.000.000 đồng. Kết thúc trận đấu, L4 thua Lâm 4.300.000 đồng. Tổng tiền Lễ đánh bạc trận đấu này là 12.700.000 đồng.
Nguyễn Anh T4 sử dụng thuê bao điện thoại số: 0397.490.xxx nhắn tin với Kiều Văn L mua cá cược với L 05 “kèo” với số tiền là: 14.000.000 đồng. Kết quả trận đấu T12 thắng được 3 kèo, số tiền là: 8.650.000 đồng, thua 02 kèo số tiền 4.500.000 đồng. Kết thúc trận đấu T4 thắng L số tiền 4.150.000 đồng. Tổng tiền T4 đánh bạc trận đấu này là 22.650.000 đồng.
Bùi Ngọc Á sử dụng thuê bao điện thoại số: 0337.970.xxx nhắn tin với Kiều Văn L mua cá cược với L 03 “kèo”, số tiền 2.000.000 đồng. Ánh thắng được 01 kèo số tiền là: 975.000 đồng, thua 02 kèo, số tiền 1.000.000 đồng. Kết thúc trận đấu Á thua L: 25.000 đồng. Tổng tiền Á đánh bạc trận đấu này là 2.970.000 đồng.
Đoàn Văn C1 sử dụng thuê bao điện thoại số: 0353.256.xxx nhắn tin đánh bạc với Kiều Văn L mua cá cược trận đấu này là: 1.500.000 đồng. Kết quả trận đấu C1 thua L cả 02 kèo với số tiền 1.500.000 đồng. Tổng tiền Chín đánh bạc trận đấu này là 1.500.000 đồng.
Tài khoản Zalo “Khách Tây” – (chưa xác định được người sử dụng) nhắn tin qua ứng dụng zalo mua cá cược với L 08 “kèo” với tổng số tiền 46.000.000 đồng, thắng được 04 kèo, số tiền 26.550.000 đồng, thua 4 kèo số tiền 24.000.000 đồng. Kết thúc trận đấu, tài khoản Zalo Khách T8 thắng L số tiền 2.550.000 đồng. Tổng tiền chủ tài khoản Z “Khách Tây” đánh bạc trận đấu này là 72.550.000 đồng (Bảy mươi hai triệu, năm trăm năm mươi ngàn đồng).
Trận đấu giữa đội A1 và Hà Lan, diễn ra lúc 2h00 ngày 10/12/2022:
Phạm Viết T2 nhắn tin mua cá cược với L 02 “kèo”, số tiền 32.000.000 đồng. T2 thắng 01 kèo số tiền là 4.750.000 đồng, thua 01 kèo số tiền là 22.000.000 đồng. Kết thúc trận đấu T2 thua L 17.250.000 đồng. Số tiền T2 đánh bạc trận đấu này là: 36.750.000 đồng.
Tạ Quang T1 nhắn tin mua cá cược với L 05 “kèo”, số tiền 8.200.000 đồng. T1 thắng được 01 kèo với số tiền là 800.000 đồng, thua 04 kèo số tiền: 7.200.000 đồng. Kết thúc trận đấu T1 thua L 6.400.000 đồng. Tổng tiền T1 đánh bạc trận đấu này là 9.000.000 đồng.
Phạm Thành L4 nhắn tin mua cá cược với L 01 “kèo”. Số tiền L4 mua cá cược trận đấu này là: 6.000.000 đồng. Lễ thắng L với số tiền là 4.350.000 đồng. Tổng tiền T1 đánh bạc trận đấu này là 10.350.000 đồng. (Note: The source text contains a likely error here, referring to T1 instead of L4 for the total amount, transcribed as is).
Nguyễn Anh T4 nhắn tin mua cá cược với L 01 “kèo”, số tiền 4.000.000 đồng. Kết quả trận đấu T4 thắng được số tiền là: 950.000 đồng, thua lại L 2.000.000 đồng. Thy thua L 1.050.000 đồng. Tổng tiền T4 đánh bạc trận đấu này là 4.950.000 đồng.
Bùi Ngọc Á nhắn tin mua cá cược với L 01 “kèo”, số tiền 1.500.000 đồng. Kết thúc trận đấu Á thắng được số tiền là: 962.500 đồng. Tổng tiền Á đánh bạc trận đấu này là 2.462.500 đồng.
Tài khoản Z “Khách T9” nhắn tin mua cá cược với L 02 “kèo” số tiền 17.000.000 đồng, thắng 02 kèo được số tiền 13.050.000 đồng, thua số tiền 3.000.000 đồng. Kết thúc trận đấu L thua 10.050.000 đồng.
Còn Ngô Văn Q, vào ngày 09 và 10/12/2022, Q sử dụng số điện thoại 0868.191.xxx để nhận tin nhắn mua cá độ bóng đá cũng theo kết quả 02 trận đấu bóng đá giữa đội tuyển quốc gia C4 và B và trận đấu bóng đá giữa đội tuyển quốc gia A1 và Hà Lan.
Đối với trận C2 và B diễn ra lúc 22h00 ngày 09/12/2022,
Nguyễn Phương N, sử dụng số điện thoại: 0798.255.xxx đăng ký tên tài khoản zalo “ABC” nhắn tin mua cá cược với Q 05 “kèo” với tổng số tiền mua cá cược: 45.000.000 đồng, N thắng được 04 “kèo” với số tiền 34.500.000 đồng, thua 01 kèo số tiền 5.000.000 đồng. Kết thúc trận đấu N3 thắng Q: 29.500.000 đồng. Tổng tiền N đánh bạc trận đấu này là 79.500.000 đồng (Bảy mươi chín triệu, năm trăm ngàn đồng).
Nguyễn Thế S sử dụng thuê điện thoại số 0962.767.xxx, nhắn tin mua cá cược với Ngô Văn Q 03 “kèo”, số tiền 25.000.000 đồng, S thắng được 01 “kèo” với số tiền là 9.000.000 đồng, thua 02 kèo số tiền 15.000.000 đồng. Kết thúc trận đấu, S thua Q 6.000.000 đồng. Tổng số tiền S đánh bạc trận đấu này là 34.000.000 đồng (Ba mươi tư triệu đồng);
Nguyễn Mạnh H5 sử dụng thuê điện thoại số 0906.615.xxx nhắn tin mua cá cược với Ngô Văn Q 07 “kèo”, số tiền 16.000.000 đồng, H5 thắng được 04 “kèo” với số tiền thắng là 10.050.000 đồng, thua 03 kèo số tiền 4.000.000 đồng. Kết thúc trận đấu H5 thắng Q 6.050.000 đồng. Tổng tiền đánh bạc trận đấu này là 26.050.000 đồng (Hai mươi bốn triệu, không trăm năm mươi ngàn đồng).
Với những kèo người chơi mua số tiền lớn, để “cân kèo” Kiều Văn L sử dụng số điện thoại 0386.909.xxx nhắn tin mua cá cược của Ngô Văn Q, qua đó hưởng hoa hồng (tiền lai). Trong trận đấu C2 và Brazin L8 mua của Q 4 “kèo”, số tiền 28.300.000 đồng, L8 thắng 03 kèo, số tiền 14.225.000 đồng, thua 01 kèo số tiền 13.800.000 đồng. Kết thúc trận đấu, L8 thắng Q 425.000 đồng. Tổng tiền L8 đánh bạc với Q trận đấu này là 42.525.000 đồng.
Chủ thuê bao số: 0985.840.804, Q khai tên S1, trú tại L - B - Lâm Đồng, Q quen khi đi làm tại Quận A, TP . (hiện chưa xác minh được người sử dụng) nhắn tin mua cá cược với Q 05 “kèo”, số tiền 36.000.000 đồng, thắng được 03 kèo 13.200.000 đồng, thua 02 kèo số tiền 20.000.000 đồng. Kết thúc trận đấu chủ thuê bao 0985.840.804 thua Q 6.800.000 đồng. Tổng tiền đánh bạc trận đấu này là 49.200.000 đồng (Bốn mươi chín triệu, hai trăm ngàn đồng).
Đối với trận A và Hà Lan diễn ra vào lúc 02 giờ 00 ngày 10/12/2022
Nguyễn Phương N cá cược với Q 02 “kèo”, số tiền 30.000.000 đồng. Kết thúc trận đấu N thua cả 02 kèo với số tiền là 25.000.000 đồng. Tổng số tiền N đánh bạc trận đấu này là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
Nguyễn Thế S cá cược với Q 04 “kèo” số tiền 40.000.000 đồng, S thắng được 02 kèo với số tiền là 22.250.000 đồng, thua 01 kèo với số tiền 5.000.000 đồng, 01 kèo hoà tiền 10.000.000đồng. Kết thúc trận đấu S thắng Q 17.250.000 đồng. Tổng số tiền S đánh bạc trận đấu này là 62.250.000 đồng (Sáu mươi hai triệu, hai trăm năm mươi ngàn đồng).
Nguyễn Mạnh H5 cá cược với Q 05 “kèo”, số tiền 12.000.000 đồng, H5 thắng được 03 kèo với số tiền là 4.925.000 đồng, thua 02 kèo với số tiền 5.000.000 đồng. Kết thúc trận đấu H5 thua Q 75.000 đồng. Tiền đánh bạc trận đấu này là 16.925.000 đồng.
Kiều Văn L mua lại cá độ của Ngô Văn Q 02 “kèo”, số tiền 13.000.000 đồng. L thắng Q 01 kèo số tiền 4.050.000 đồng, thua 01 kèo số tiền 11.500.000 đồng. Kết thúc trận đấu, L thua Q 7.450.000 đồng. Tổng tiền L đánh bạc với Q trận đấu này là 17.550.000 đồng (Mười bảy triệu, không trăm năm mươi ngàn đồng).
Chủ thuê bao số: 0985.840.804, nhắn tin mua cá cược với Q 09 “kèo” số tiền 73.000.000 đồng, thắng được 05 kèo số tiền 18.000.000 đồng, thua 4 kèo số tiền 43.000.000 đồng. Kết thúc trận đấu chủ thuê bao 0985.840.804 thua Q 25.000.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc trận đấu này là 91.000.000 đồng (Chín mươi mốt triệu đồng).
Tại Cơ quan điều tra Ngô Văn Q khai nhận người sử dụng số điện thoại 0985.840.xxx Ngô Văn S2. Nhưng quá trình điều tra xác định người đứng tên đăng ký thuê bao và sử dụng số điện thoại 0985.840.xxx là Ngô Văn H6, sinh năm 1979, trú tại Thôn A, xã L, B, Lâm Đồng. Tại Cơ quan điều tra H6 và S2 đều khai không đánh bạc với Ngô Văn Q. Cơ quan điều tra không có tài liệu gì khác để chứng minh Ngô Văn S2 hay Ngô Văn Q đánh bạc với Q.
Ngoài ra, vào lúc 1h12' ngày 09/12/2022 (giờ Việt Nam) còn diễn ra trận đấu giữa câu lạc bộ P2 và câu lạc bộ C3, thuộc giải SERI B của Ý, Nguyễn Phương N con nhắn tin mua cá cược với Ngô Văn Q 01 “kèo”. Số tiền N mua cá độ trận đấu này là: 10.000.000 đồng. Kết thúc trận đấu N thắng Q số tiền 10.000.000 đồng. Tổng số tiền N đánh bạc trận đấu này là: 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng);
Tại cơ quan điều tra, Ngô Văn Q còn khai trước đó còn bán cá độ bóng đá cho Đỗ Đăng T6, Vũ Văn T7 và Lê Quang M1. Cụ thể:
Ngày 28/11/2022, Đỗ Đăng T6 có gọi điện cho Q tham gia cá cược 03 kèo phạt góc của 03 trận đấu bóng đá thuộc vòng trung kết bóng đá thế giới 2022, mỗi trận số tiền cá độ 1.500.000 đồng đến 2.000.000 đồng. Tính đã thắng được của Q số tiền 4.000.000 đồng thì nghỉ không chơi nữa. Q đã thanh toán cho T6 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) tiền thắng cá độ.
Vũ Văn T7 khai nhận: trước ngày 09/12/2022 (T7 không nhớ rõ ngày), T6 có gọi điện đến số điện thoại cho Q cá độ 05 trận đấu bóng đá thuộc vòng trung kết bóng đá thế giới 2022, mỗi kèo từ 500.000 đồng đến 3.000.000 đồng. Có kèo T7 thắng, có kèo thiện thua, sau 05 trận đấu, T7 thua Q 1.450.000 đồng (Một triệu bốn trăm năm mươi ngàn đồng) thì không chơi nữa. T7 chưa thanh toán cho Q.
Lê Quang M1 khai nhận: trước ngày 09/12/2022 (M1 không nhớ rõ ngày) có nhận của Ngô Văn Q 01 tài khoản trên trang Bong88 về tự nhập đăng nhập tham gia cá độ bóng đá qua trang Web với trị giá tài khoản là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng). Sau khi tham gia cá độ 06 kèo, M1 đã thắng được số tiền 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng) thì tài khoản bị lỗi. Khi đó Q đã giao cho M1 01 tài khoản khác nhưng khi nhận tài khoản mới M1 không tham gia cá độ nữa. Q đã thanh toán cho M1 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng) tiền thắng cá độ.
Tuy nhiên do T6, T7 chỉ cá độ bằng lời nói, tài khoản cá độ bóng đá Q giao cho M1 đã bị xoá, ngoài lời khai nhận của Q, T6, T7 và M1 thì không có chứng cứ nào khác, kết quả tra cứu về nhân thân M1, T6, T7 đều không có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc hay tổ chức đánh bạc nên cơ quan điều tra không xem xét xử lý hình sự, xét thấy là phù hợp.
L khai nhận người sử dụng nick Zalo tên “Cá Mập” đăng ký bằng số điện thoại 0338.307.xxx) bán cho L 01 tài khoản trên trang Web VINA88 chuyên cá độ bóng đá để xem kèo và cá độ qua mạng là Nguyễn Tuấn V3, sinh năm 1992, trú tại Thôn F, xã M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng nhưng qua xác minh người đứng tên đăng ký thuê báo số 0338.307556 là Điểu K' L9, sinh năm 1977, trú tại Thôn B, xã Đ, huyện C, tỉnh Lâm Đồng. Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Tuấn V3 không thừa nhận bán tài khoản cá độ bóng đã cho L. Do tài khoản trên trang Web VINA88 đã bị xoá nên không đủ căn cứ xử lý Nguyễn Tuấn V3.
Cơ quan CSĐT – CA Huyện ĐạTẻh cũng đã xác minh về Trần Văn T10 – người mà Q khai nhận 01 tài khoản trên trang Web chuyên cá độ bóng đá của T10 để xem kèo và cá độ qua mạng, xác định T10 chỉ đứng tên đăng ký thuê bao số: 0962.053.739, số điện thoại này không có tin nhắn mua bán cá độ với Ngô Văn Q. Còn số điện thoại 0911.709.xxx có nhắn tin gửi tên đăng nhập, mật khẩu tài khoản và “kèo” cá độ bóng đá cho Ngỗ Văn Q1 thì tên đăng ký thuê bao là Hoàng Văn L10, sinh năm 1988, trú tại Thôn B, xã A, huyện Đ. T10 không thừa nhận sử dụng số điện thoại 0911.709.xxx bán tài khoản cá độ bóng đá với Q1 nên không đủ căn cứ xử lý.
Tại bản Cáo trạng số 38/CT-VKSĐT-TA ngày 14 tháng 9 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng truy tố các bị cáo Kiều Văn L, Ngô Văn Q về tội “Tổ chức đánh bạc” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật hình sự; Truy tố các bị cáo Phạm Viết T2, Tạ Quang T1, Phạm Thành L4, Nguyễn Anh T4, Nguyễn Mạnh H5 về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự; Truy tố các bị cáo Nguyễn Phương N, Nguyễn Thế S về tội “Đánh bạc” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đạ Tẻh giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
* Về hình phạt:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Kiều Văn L từ 18 (mười tám) tháng đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù; Hình phạt bổ sung từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Ngô Văn Q từ 18 (mười tám) tháng đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù; Hình phạt bổ sung từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Viết T2 từ 18 (mười tám) tháng đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù; Hình phạt bổ sung từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 36 và Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Tạ Quang T1, Phạm Thành L4 mỗi bị cáo từ 18 (mười tám) tháng đến 24 (hai mươi bốn) tháng cải tạo không giam giữ; Hình phạt bổ sung từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 36 và Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T4 từ 18 (mười tám) tháng đến 24 (hai mươi bốn) tháng cải tạo không giam giữ; Hình phạt bổ sung từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh H5 từ 15 (mười lăm) đến 18 (mười tám) tháng tù; Hình phạt bổ sung từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Phương N từ 36 (ba mươi sáu) tháng đến 42 (bốn mươi hai) tháng tù; Hình phạt bổ sung từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế S từ 30 (ba mươi) tháng đến 36 (ba mươi sáu) tháng tù; Hình phạt bổ sung từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
* Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đạ Tẻh còn đề nghị xử lý vật chứng, về áp dụng biện phán tư pháp và án phí theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa các bị cáo đều đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo ân hận về hành vi phạm tội của mình; các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa các bị cáo đều đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và thừa nhận:
Vào ngày 9 và ngày 10/12/2022, do hám lợi nên bị cáo Ngô Văn Q và bị cáo Kiều Văn L đã có hành vi tổ chức cá cược thắng thua bằng tiền đối với các trận đấu bóng đá trong khuân khổ tứ kết Giải vô địch bóng đá thế giới 2022 và giải SERI B của Ý. Trong đó:
Bị cáo Kiều Văn L 02 lần đánh bạc với bị cáo Phạm Viết T2 số tiền đánh bạc 84.050.000đồng, bị cáo T2 không thu lợi từ hành vi đánh bạc. 02 lần đánh bạc với bị cáo Tạ Quang T1, số tiền 31.400.000đồng, bị cáo T1 không thu lợi từ hành vi đánh bạc. 02 lần đánh bạc với bị cáo Phạm Thành L4 số tiền: 23.050.000đồng, bị cáo L4 thu lợi số tiền 50.000 đồng 02 lần đánh bạc với bị cáo Nguyễn Anh T4, số tiền 27.600.000đồng, bị cáo T4 thu lợi từ hành vi đánh bạc số tiền 3.100.000đồng; 02 lần đánh bạc với anh Bùi Ngọc Á, số tiền 5.437.500đồng, anh Á thu lợi từ hành vi đánh bạc số tiền 937.500 đồng; 01 lần đánh bạc với anh Đoàn Văn C1, số tiền 1.500.000đồng, anh C1 không thu lợi từ hành vi đánh bạc; Tài khoản Zalo “Khách tây” – chưa xác định được người sử dụng, đánh bạc số tiền 102.600.000 đồng, chủ tài khoản zalo Khách tây thu lợi từ hành vi đánh bạc số tiền 12.600.000đồng. Ngoài ra, bị cáo L còn mua lại cá độ của bị cáo Ngô Văn Q để cân kèo với 2 lần, số tiền 59.575.000 đồng, bị cáo L không thu lợi. Như vậy, bị cáo Kiều Văn L tổ chức đánh bạc cho 8 người, tổng số tiền tổ chức đánh bạc là 335.212.500 đồng (Ba trăm ba mươi lăm triệu, hai trăm mười hai ngàn, năm trăm đồng). Bị cáo L thu lợi bất chính từ hành tổ chức đánh bạc số tiền: 15.737.500 đồng (Mười năm triệu, bảy trăm ba mươi bày ngàn, năm trăm đồng).
Bị cáo Ngô Văn Q 03 lần đánh bạc với bị cáo Nguyễn Phương N, số tiền 129.500.000đồng, bị cáo N thu lợi từ hành vi đánh bạc số tiền 4.500.000đồng, 02 lần đánh bạc với bị cáo Nguyễn Thế S, số tiền 96.250.000đồng, bị cáo S thu lợi từ hành vi đánh bạc số tiền 11.250.000 đồng. 02 lần đánh bạc với bị cáo Nguyễn Mạnh H5, số tiền 42.975.000đồng, bị cáo H5 thu lợi từ hành vi đánh bạc số tiền 5.975.000 đồng. 02 lần đánh bạc với bị cáo Kiều Văn L, số tiền 59.575.000 đồng và 02 lần đánh bạc với chủ thuê bao số điện thoại “0985.840.xxx” (chưa xác định được người sử dụng), số tiền : 140.200.000 đồng. Như vậy, bị cáo Ngô Văn Q tổ chức đánh bạc cho 5 người với tổng số tiền đánh bạc là 468.500.000đồng, bị cáo Q thu lợi bất chính từ hành vi tổ chức đánh bạc số tiền 7.100.000đồng (Bảy triệu, một trăm ngàn đồng).
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung của bản cáo trạng, lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, tang vật thu giữ cùng các tài liệu chứng cứ khác được phản ánh trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của các bị cáo Kiều Văn L, Ngô Văn Q phạm tội “Tổ chức đánh bạc” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật hình sự; Các bị cáo Phạm Viết T2, Tạ Quang T1, Phạm Thành L4, Nguyễn Anh T4, Nguyễn Mạnh H5 phạm tội “Đánh bạc” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự; Các bị cáo Nguyễn Phương N, Nguyễn Thế S phạm tội “Đánh bạc” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo L, Q, T2, T1, L4, T4, H5, N và bị cáo S đều phạm tội 02 lần trở lên nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Bị cáo T2 đang có tiền án về tội đánh bạc, bị cáo H5 đang có tiền án về tội trộm cắp tài sản, nên bị cáo T2 và bị cáo H5 phải chịu thêm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo L, Q, T2, T1, L4, T4, H5, N và bị cáo S đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo S sau khi phạm tội đã ra tự thú và bị cáo có bố đẻ là thương binh nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Trong vụ án này xét thấy, bị cáo S có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên cần áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo, xử phạt bị cáo S dưới khung hình phạt thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Bị cáo N sau khi phạm tội đã ra đầu thú nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo T4 và bị cáo T2 đã nộp số tiền dùng để đánh bạc nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo L có bố đẻ là thương binh nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo H5 có bố đẻ là người có công với cách mạng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về nhân thân, tiền án, tiền sự của từng bị cáo:
- Bị cáo L, ngày 24/2/2004 TAND tỉnh Lâm Đồng tuyên phạt 06 năm tù về tội Cướp tài sản; Ngày 27/11/2015 TAND huyện Đạ Tẻh tuyên phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản – đã chấp hành xong.
- Bị cáo Q, ngày 13/4/2021 bị Trưởng Công an xã Q, huyện Đ ra quyết định xử phạt hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi đánh nhau, đã chấp hành xong ngày 26/5/2021.
- Bị cáo S, ngày 19/8/2019, bị TAND huyện Đạ Tẻh tuyên phạt 30.000.000đồng về tội “Đánh bạc”. Bị cáo đã chấp hành xong.
- Bị cáo T1, ngày 10/4/2016 Công an huyện Đ xử phạt hành chính số tiền 1.500.000đồng về hành vi đánh bạc, bị cáo đã chấp hành xong.
- Bị cáo T2, có 01 tiền án ngày 23/02/2022, bị TAND huyện ĐạTẻh tuyên phạt 30.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”, chưa được xóa án tích.
- Bị cáo L4, ngày 15/04/2016 bị TAND huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tuyên phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”, đã chấp hành xong.
- Bị cáo H5, có 01 tiền án ngày 23/09/2016, bị TAND TP Thuận An, tỉnh Bình Dương tuyên phạt 08 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản” - chưa được xóa án tích.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
- Về tính chất và mức độ hành vi phạm tội:
Hành vi tổ chức đánh bạc và đánh bạc trái phép mà các bị cáo L, Q, T2, T1, L4, T4, H5, N và bị cáo S đã cố ý cùng nhau thực hiện với động cơ sát phạt lẫn nhau được thua bằng tiền nhằm tước đoạt tiền bạc của nhau là hành vi nguy hiểm cho xã hội, Nhà nước nghiêm cấm tổ chức đánh bạc và đánh bạc dưới mọi hình thức. Tội phạm này là nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn gia đình và các loại tội phạm khác ngoài xã hội, hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự và nếp sống văn minh tại địa phương. Trong vụ án này, các bị cáo cùng tham gia thực hiện tội phạm một cách tích cực, không có sự xúi giục và không có câu kết chặt chẽ vai trò của từng người, do đó đây là vụ án mang tính đồng phạm giản đơn, cùng cố ý thực hiện.
Vì vậy, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi phạm tội mà từng bị cáo đã gây ra.
Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà từng bị cáo đã gây ra, nhân thân của từng bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo. Do vậy, cần áp dụng một mức hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo L, Q, T2, T1, L4, H5, N và bị cáo S tương xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra, cần cách ly các bị cáo L, Q, T2, T1, L4, H5, N và bị cáo S ra khởi đời sống xã hội một thời gian nhất định, đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật vừa giữ gìn an ninh trật tự, cải tạo giáo dục các bị cáo cũng như có tác dụng phòng ngừa chung.
Đối với bị cáo Nguyễn Anh T4: Cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo T4 đã gây ra, tuy nhiên, khi lượng hình phạt cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần vì: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có nơi cư trú ổn định rõ ràng, bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Do đó xét thấy, không cần thiết phải cách ly bị cáo T4 ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được tự cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và gia đình cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo thành người hữu ích mà vẫn đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật và xét thấy không khấu trừ thu nhập của bị cáo T4 là phù hợp.
- Về hình phạt bổ sung:
Xét thấy, cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo L, Q là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 322 Bộ luật hình sự.
Xét thấy, cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo T2, T1, L4, T4, H5, N và bị cáo S là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự.
- Ngoài ra, trong vụ án này còn có:
Đối với hành vi đánh bạc của Bùi Ngọc Á, Đoàn Văn C1 chưa đủ 5.000.000đồng/lần nên không bị xử lý trách nhiệm hình sự. Hành vi đánh bạc của Đỗ Đăng T6, Vũ Văn T7 và Lê Quang M1 không đủ căn cứ để xử lý, Công an huyện Đ đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các đối tượng này và đã tịch thu số tiền các đối tương dùng để đánh bạc nộp vào ngân sách Nhà nước là phù hợp.
Đối với chủ tài khoản Zalo tên “Khách Tây” đăng ký bằng số điện thoại: 0369.191.xxx vào ngày 6/12/2022 và 10/12/2022 có nhắn tin mua cá độ bóng đá với Kiều Văn L 02 trận đấu bóng đá giữa đội tuyển quốc gia C4 - B1 khai mạc lúc 22h00 ngày 09/12/2022 và trận đấu giữa đội tuyển quốc gia A1 - Hà Lan, khai mạc lúc 2h00 ngày 10/12/2022, thuộc Vòng trung kết bóng đá thế giới (W) năm 2022. Quá trình điều tra xác định số tiền đánh bạc mỗi trận đấu đều đến mức cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự. L khai chủ tài khoản Z “Khách Tây” này tên H7, hiện ở Đắk Lắk, trước đây cư trú tại Đ. Cơ quan điều tra xác minh người đăng ký thuê bao 0369.191.917 là Nguyễn Mạnh H8, sinh năm 1976, trú tại Thôn P, xã M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng nhưng hiện không có mặt tại địa phương. Cơ quan điều tra chưa xác định được hiện H8 đang ở đâu, chưa làm việc được với H8, chưa có cơ sở xác định Nguyễn Mạnh H8 là người sử dụng tài khoản Zalo “Khách Tây” để đánh bạc với bị cáo L. Do đó, Cơ quan điều tra tách ra, tiếp tục điều tra, xử lý sau là phù hợp. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về vật chứng của vụ án:
- Các vật chứng vụ án, cơ quan điều tra đã thu giữ:
- 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu đen, số seri: DX3G2WLPN735, số IMEI: 357771775057917 thu giữ của bị cáo Kiều Văn L.
- 03 chiếc ĐTDĐ: 01 chiếc ĐTDĐ hiệu OPPO Reno 7Z5G màu đen có số IMEI 1: 869447053765890 kèm Sim số: 0860.191639; 01 chiếc ĐTDĐ hiệu OPPO A74 màu đen có số IMEI 1: 860821054076839, kèm Sim điện thoại: 0981.042.xxx; 01 ĐTDĐ chiếc hiệu SAM SUNG màu xanh, có số IMEI 1: 356416114156324, không có sim thu giữ của bị cáo Ngô Văn Q.
- 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 6S Plus, màu xám, có số IMEI: 355728076513008, không có Sim, thu giữ của bị cáo Nguyễn Phương N;
- 01 chiếc điện thoại di động hiệu OPPO màu đen, không lên màn hình, không hoạt động, không có S3, thu giữ của bị cáo Nguyễn Thế S.
- 01 chiếc điện thoại di động hiệu Redmi, màu đen, có số IMEI 1: 865194043634695/01, IMEI 2: 865194043634703/01, gắn Sim điện thoại số: 0868.101.xxx, thu giữ của bị cáo Tạ Quang T1;
- 01 điện thoại di động hiệu SAM SUNG J2, màu đen, có số IMEI 1: 355726098470751/01/01; IMEI-2: 355727098470759/01, gắn Sim điện thoại số: 0337.970.xxx, thu giữ của bị cáo Phạm Viết T2;
- 01 điện thoại di động hiệu OPPO A54, màu đen, đã qua sử dụng; có số IMEI-1: 868958055086177; IMEI-2: 868958055086169, trong có Sim điện thoại số: 0397.490.xxx, thu giữ của bị cáo Nguyễn Anh T4;
- 01 điện thoại di động SAM SUNG màu hồng, SM-9920F/DS có số IMEI 1: 359933/09/84208014; số IMEI 2: 359934/09/84208012, thu giữ của Lê Quang M1.
- 01 điện thoại di động hiệu SAM SUNG Galaxy S10, màu đen, có số IMEI 1: 353553100299701, thu giữ của Bùi Ngọc Á.
Xét thấy, các vật chứng trên là của các bị cáo và của anh Lê Quang M1, anh Bùi Ngọc Á. Các vật chứng đã dùng làm phương tiện phạm tội, do vậy cần tịch thu để nộp vào ngân sách Nhà nước là phùn hợp.
- Vật chứng là số tiền mà các bị cáo dùng để đánh bạc:
Bị cáo Phạm Viết T2 dùng số tiền 68.500.000đ, bị cáo Tạ Quang T1 dùng số tiền 25.200.000đ, bị cáo Phạm Thành L4 dùng số tiền 16.000.000đ, bị cáo Nguyễn Anh T4 dùng số tiền 18.000.000đ để mua cá cược bóng đá với bị cáo L nhưng chưa trả cho bị cáo L. Do vậy, cần tịch thu số tiền này để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Bị cáo Kiều Văn L dùng số tiền 41.300.000đ, bị cáo Nguyễn Phương N dùng số tiền 85.000.000đ, bị cáo Nguyễn Thế S dùng số tiền 65.000.000đ, bị cáo Nguyễn Mạnh H5 dùng số tiền 28.000.000đ để mua cá cược bóng đá với bị cáo Q nhưng chưa trả cho bị cáo Q. Do vậy, cần tịch thu số tiền này để nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Các vật chứng vụ án, cơ quan điều tra đã thu giữ:
- Về biện phán tư pháp:
Đối với bị cáo Kiều Văn L: Bị cáo L đã đánh bạc với các bị cáo T2, T1, L4, T4, anh Bùi Ngọc Á, anh Đoàn Văn C1, Tài khoản Zalo “Khách tây” và bị cáo Q, bị cáo L thắng bạc và phải trả tiền thắng bạc nhưng bị cáo L chưa trả cho các bị cáo T2, T1, L4, T4, Bùi Ngọc Á và Tài khoản Z “Khách tây” với tổng số tiền là 79.937.500đ. Do vậy, cần tịch thu số tiền này của bị cáo L để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Đối với bị cáo Ngô Văn Q: Bị cáo Q đã đánh bạc với các bị cáo L, N, S, H5 và số thuê bao 0985840804, bị cáo Q thắng bạc và phải trả tiền thắng bạc nhưng bị cáo Q chưa trả cho các bị cáo L, N, S, H5 và số thuê bao 0985840804 với tổng số tiền là 140.200.000đ. Do vậy, cần tịch thu số tiền này của bị cáo Q để nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Kiều Văn L, Ngô Văn Q phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; Các bị cáo Phạm Viết T2, Tạ Quang T1, Phạm Thành L4, Nguyễn Anh T4, Nguyễn Mạnh H5, Nguyễn Phương N và bị cáo Nguyễn Thế S phạm tội “Đánh bạc”.
* Về hình phạt chính:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Kiều Văn L 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Ngô Văn Q 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Phương N 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 54 và Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế S 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Viết T2 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh H5 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt:
- - Bị cáo Tạ Quang T1 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- - Bị cáo Phạm Thành L4 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 36 và Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T4 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án. Bị cáo T4 không bị khấu trừ thu nhập. Giao bị cáo T4 cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai giám sát giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án.
* Về hình phạt bổ sung:
Áp dụng khoản 3 Điều 322 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Kiều Văn L và bị cáo Ngô Văn Q mỗi bị cáo phải nộp số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Áp dụng khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự:
- - Xử phạt bị cáo Phạm Viết T2 và bị cáo Nguyễn Anh T4 mỗi bị cáo phải nộp số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
- - Xử phạt bị cáo Tạ Quang T1 phải nộp số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
- - Xử phạt các bị cáo Nguyễn Phương N, Nguyễn Thế S, Nguyễn Mạnh H5 và bị cáo Phạm Thành L4 mỗi bị cáo phải nộp số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
2. Về xử lý vật chứng:
2.1. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu sung công vào ngân sách nhà nước các vậy chứng sau:
- 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu đen, số seri: DX3G2WLPN735, số IMEI: 357771775057917 thu giữ của bị cáo Kiều Văn L.
- 03 chiếc ĐTDĐ: 01 chiếc ĐTDĐ hiệu OPPO Reno 7Z5G màu đen có số IMEI 1: 869447053765890 kèm Sim số: 0860.191639; 01 chiếc ĐTDĐ hiệu OPPO A74 màu đen có số IMEI 1: 860821054076839, kèm Sim điện thoại: 0981.042.xxx; 01 ĐTDĐ chiếc hiệu SAM SUNG màu xanh, có số IMEI 1: 356416114156324, không có sim thu giữ của bị cáo Ngô Văn Q.
- 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 6S Plus, màu xám, có số IMEI: 355728076513008, không có Sim, thu giữ của bị cáo Nguyễn Phương N;
- 01 chiếc điện thoại di động hiệu OPPO màu đen, không lên màn hình, không hoạt động, không có S3, thu giữ của bị cáo Nguyễn Thế S.
- 01 chiếc điện thoại di động hiệu Redmi, màu đen, có số IMEI 1: 865194043634695/01, IMEI 2: 865194043634703/01, gắn Sim điện thoại số: 0868.101.xxx, thu giữ của bị cáo Tạ Quang T1;
- 01 điện thoại di động hiệu SAM SUNG J2, màu đen, có số IMEI 1: 355726098470751/01/01; IMEI-2: 355727098470759/01, gắn Sim điện thoại số: 0337.970.xxx, thu giữ của bị cáo Phạm Viết T2;
- 01 điện thoại di động hiệu OPPO A54, màu đen, đã qua sử dụng; có số IMEI-1: 868958055086177; IMEI-2: 868958055086169, trong có Sim điện thoại số: 0397.490.xxx, thu giữ của bị cáo Nguyễn Anh T4;
- 01 điện thoại di động SAM SUNG màu hồng, SM-9920F/DS có số IMEI 1: 359933/09/84208014; số IMEI 2: 359934/09/84208012, thu giữ của Lê Quang M1.
- 01 điện thoại di động hiệu SAM SUNG Galaxy S10, màu đen, có số IMEI 1: 353553100299701, thu giữ của Bùi Ngọc Á.
Chi tiết của các vật chứng trên được mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 14/9/2023 giữa cơ quan điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đạ Tẻh.
2.2. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, buộc các bị cáo phải nộp sung công số tiền sau để nộp vào ngân sách Nhà nước:
- Bị cáo Tạ Quang T1 phải nộp số tiền 25.200.000 đồng (Hai mươi lăm triệu hai trăm ngàn đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Bị cáo Phạm Thành L4 phải nộp số tiền 16.000.000 đồng (Mười sáu triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Bị cáo Kiều Văn L phải nộp số tiền 41.300.000 đồng (Bốn mươi mốt triệu ba trăm ngàn đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Bị cáo Nguyễn Phương N phải nộp số tiền 85.000.000 đồng (T11 mươi lăm triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Bị cáo Nguyễn Thế S phải nộp số tiền 65.000.000 đồng (Sáu mươi lăm triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Bị cáo Nguyễn Mạnh H5 phải nộp số tiền 28.000.000 đồng (Hai mươi tám triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Bị cáo Phạm Viết T2 phải nộp số tiền 68.500.000đ. Xác nhận bị cáo T2 đã nộp số tiền 68.500.000₫ (Sáu mươi tám triệu năm trăm ngàn đồng) theo phiếu thu số 0002956 ngày 26/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng.
- Bị cáo Nguyễn Anh T4 phải nộp số tiền 18.000.000đ. Xác nhận bị cáo T4 đã nộp số tiền 18.000.000₫ (Mười tám triệu đồng), hiện số tiền này đang được tạm giữ tại tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đạ Tẻh số 3949.0.1098084.00000 mở tại Kho bạc Nhà nước huyện Đ, theo Ủy nhiệm chi ngày 22/9/2023 của Cơ quan Công an huyện Đ.
3. Về biện phán tư pháp: Áp dụng Điều 46 của Bộ luật hình sự:
- Buộc bị cáo Kiều Văn L phải nộp sung công số tiền 79.937.500₫ (Bảy mươi chín triệu chín trăm ba mươi bảy ngàn năm trăm đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Buộc bị cáo Ngô Văn Q phải nộp sung công số tiền 140.200.000đ (Một trăm bốn mươi triệu hai trăm ngàn đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Kiều Văn L, Ngô Văn Q, Phạm Viết T2, Tạ Quang T1, Phạm Thành L4, Nguyễn Anh T4, Nguyễn Mạnh H5, Nguyễn Phương N và bị cáo Nguyễn Thế S mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án về những vẫn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình lên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Lê Tiến Dũng |
20
Bản án số 02/2024/HS-ST ngày 09/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ TẺH TỈNH LÂM ĐỒNG về vụ án hình sự về tội tổ chức đánh bạc và đánh bạc
- Số bản án: 02/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ TẺH TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đánh bac - TC đánh bạc
