TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 02/2024/HN-ST
Ngày: 09/01/2024
V/v xin ly hôn, tranh chấp
nuôi con, cấp dưỡng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Yến Nhi
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Võ Thị Hiền
- Bà Hà Thị Dung
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Ngọc Huỳnh Như – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Tri – Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Hiển – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Tri xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 424/2023/TLST-HNGĐ ngày 09/10/2023 về việc “Xin ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 197/2023/QĐST – HN GĐ ngày 12 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 123/2023/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Huỳnh Mộng T, sinh năm 1983 (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt);
Trú tại: ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre.
Bị đơn: Anh Đỗ Văn T1, sinh năm 1981 (Vắng mặt);
Trú tại: ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 27 tháng 9 năm 2023, trong quá trình tố tụng sơ thẩm nguyên đơn chị Huỳnh Mộng T trình bày:
Chị và anh Đỗ Văn T1 có đăng ký kết hôn năm vào ngày 06/02/2013 tại Ủy ban nhân dân xã T trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến đầu tháng 02/2020, hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, do anh T1 đi chơi, làm nhưng không đưa tiền lo cho vợ con, không quan tâm gia đình dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt. Cuộc sống hôn nhân không thể tiếp tục, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được. Gia đình hai bên có tạo điều kiện hàn gắn cho chị T và anh T1 nhưng không được. Chị và anh T1 hiện đã sống ly thân từ đầu tháng 02/2023 đến nay. Quá trình chung sống 01 con chung tên cháu Đỗ Minh K, sinh ngày 22/9/2012. Hiện đang sống chung với chị T.
Chị yêu cầu tòa án giải quyết những vấn đề sau:
- Về hôn nhân: Chị Huỳnh Mộng T yêu cầu được ly hôn với anh Đỗ Văn T1
- Về con chung: Sau khi ly hôn, chị T yêu cầu được nuôi con chung Đỗ Minh K, sinh ngày 22/9/2012, không yêu cầu anh Đỗ Văn T1 cấp dưỡng nuôi con.
- Tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
- Nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Trong quá trình tố tụng bị đơn anh Đỗ Văn T1 trình bày:
Anh đồng ý với ý kiến trình bày của chị T về điều kiện kết hôn, con chung, tài sản chung, nợ chung.
Nhưng nay chị T xin ly hôn thì anh không đồng ý, anh vẫn còn thương vợ, thương con, vợ chồng không có sự cải vã. Anh muốn vợ chồng hàn gắn, cùng nuôi dạy con trưởng thành.
Về con chung: 01 (một) con chung tên Đỗ Minh K, sinh ngày 22/9/2012. Sau khi ly hôn, anh đồng ý để con chung sống với mẹ theo nguyện vọng của cháu. Anh sẽ cấp dưỡng nuôi con bên ngoài theo điều kiện kinh tế của anh.
Tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết
Nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:
Về tố tụng: Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, xét thấy trong quá trình tố tụng, Thẩm phán đã tuân thủ và tiến hành đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự: Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự; Thành viên Hội đồng xét xử thể hiện sự vô tư, khách quan, độc lập khi xét xử. Do đó, vụ án được đưa ra xét xử là đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: Nhận thấy tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh T1 đã tồn tại mâu thuẫn trầm trọng, hai bên không thể hàn gắn để tiếp tục cuộc sống chung, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của chị T với anh T1 là có căn cứ, phù hợp với Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận;
- Về con chung: Căn cứ vào yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung của chị T và nguyện vọng muốn sống cùng mẹ của cháu K, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của chị T giao con chung cho chị T nuôi dưỡng đến khi trưởng thành.
- Về tài sản chung: Không tranh chấp nên không đề nghị xem xét, giải quyết;
- Về nợ chung: Không có nên không đề nghị xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa, ý kiến của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục: Chị Huỳnh Mộng T có đơn yêu cầu Tòa xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Đỗ Văn T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để xét xử, nhưng anh vắng mặt không có lý do. Do đó, việc đưa vụ án ra xét xử vắng mặt chị T, anh T1 là phù hợp với quy định tại các Điều 227, 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về hôn nhân: Chị Huỳnh Mộng T và anh Đỗ Văn T1 kết hôn năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B vào ngày 06 tháng 02 năm 2013 nên quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh T1 là hợp pháp.
Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh T1 thường xuyên đi chơi, không quan tâm chăm lo cho vợ con. Thời gian sống ly thân hai bên không có thiện chí, biện pháp hàn gắn tình cảm. Anh T1 cho rằng hôn nhân giữa anh và chị T là có khả năng hàn gắn để chung sống hạnh phúc là không có căn cứ bởi từ khi chị T nộp đơn ly hôn đến nay, anh T1 và chị T nhiều lần gặp mặt, nói chuyện cùng nhau nhưng chị T và anh T1 không có cùng quan điểm, đôi bên không còn tin tưởng nhau, chị T không chấp nhận hàn gắn cùng anh T1, anh T1 cũng không thuyết phục được chị T rút lại yêu cầu ly hôn. Qua đó, đủ cơ sở xác định mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng chị T và anh T1 là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của chị T với anh T1 là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Khoản 1, Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3]. Về con chung: Xét việc chị T yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng con chung giữa chị T và anh T1 tên Đỗ Minh K, sinh ngày 22/9/2012 cho đến khi con chung tròn 18 tuổi theo quy định pháp luật là phù hợp với nguyện vọng cháu K cũng như quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này. Chị T không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xem xét.
[4]. Về tài sản chung: Không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xét đến.
[5]. Về nợ chung: Đương sự khai không có nên nên Hội đồng xét xử không xét đến.
[6]. Xét quan điểm đề nghị về nội dung giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri là cùng quan điểm nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[7]. Về án phí hôn nhân sơ thẩm chị Huỳnh Mộng T phải chịu theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 59, 81, 82, 83, 84, 110 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí của Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận cho chị Huỳnh Mộng T ly hôn với anh Đỗ Văn T1.
- Về con chung: Chị Huỳnh Mộng T tiếp tục nuôi dưỡng con chung chung tên Đỗ Minh K, sinh ngày 22/9/2012. Ghi nhận việc chị T không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con.
Anh Đỗ Văn T1 có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung sau này, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không tranh chấp nên Tòa không xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: Đương sự khai không có nên Hội đồng không xem xét.
- Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Huỳnh Mộng T phải chịu 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) án phí sơ thẩm ly hôn nhưng chị T được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0001372 ngày 28/9/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, án phí vụ kiện chị T đã nộp xong.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hồ Thị Yến Nhi |
Bản án số 02/2024/HN-ST ngày 09/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE về xin ly hôn, tranh chấp nuôi con, cấp dưỡng
- Số bản án: 02/2024/HN-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn, tranh chấp nuôi con, cấp dưỡng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/01/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: hấp nhận cho chị Huỳnh Mộng T ly hôn với anh Đỗ Văn T1. Về con chung: Chị Huỳnh Mộng T tiếp tục nuôi dưỡng con chung chung tên Đỗ Minh K, sinh ngày 22/9/2012. Ghi nhận việc chị T không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Không tranh chấp nên Tòa không xem xét giải quyết. Về nợ chung: Đương sự khai không có nên Hội đồng không xem xét. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Huỳnh Mộng T phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí sơ thẩm ly hôn nhưng chị T được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0001372 ngày 28/9/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, án phí vụ kiện chị T đã nộp xong.
