|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 02/2024/HS-ST Ngày: 09-01-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Hoa
Ông Trần Văn Hiền
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Toà án nhân dân
huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện A, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên
tòa: Ông Nguyễn Đông H - Kiểm sát viên
Ngày 09 tháng 01 năm 2024 tại Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 86/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2023/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo:
- Lê Minh H1, sinh ngày 29 tháng 4 năm 2003 tại A, Kiên Giang; CCCD số [...]; Nơi cư trú: Khu phố A, thị trấn T, huyện A, Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 4/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Lê Minh H2 và bà Quách Thị Quỳnh M; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; Về nhân thân: Ngày 24/01/2022 bị Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xử phạt 10 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án số: 07/2022/HS-ST; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 28/7/2023 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
- Thái Văn T, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1994 tại A, Kiên Giang; CCCD số [...]; Nơi cư trú: ấp C, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Thái Văn D và bà Nguyễn Thị H3; vợ là Trương Huỳnh N; có 01 người con, sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
2
Bị hại: Anh Phù Minh L, sinh năm 2002; chỗ ở hiện nay: ấp M, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ ngày 17/7/2023, Lê Minh H1 rủ Thái Văn T điều khiển xe mô tô đến cửa hàng của anh Phù Minh L ở ấp M, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang, để bán điện thoại. Khi tới cửa hàng, H1 đi vào còn T ở ngoài xe đợi, khi đi vào trong cửa hàng không thấy ai nên H1 đã lấy trộm của anh L một số tài sản gồm: 01 (một) điện thoại di động Iphone 12 Pro, màu đen; 01 (một) điện thoại di động Iphone XS Max, màu vàng gold; 01 (một) điện thoại di động Iphone 7 Plus, màu hồng; 01 (một) cái ví da màu nâu trong ví da có: Tiền Việt Nam khoảng 10.000.000 đồng; 01 (một) chiếc nhẫn vàng PNJ trọng lượng 01 (một) chỉ; 02 (hai) giấy chứng nhận đăng ký xe; 04 (bốn) thẻ ATM; 01 (một) giấy căn cước công dân; 01 (một) giấy phép lái xe.
Sau khi lấy trộm được tài sản, H1 chạy ra xe kêu T điều khiển xe nhanh chóng tẩu thoát, khi chạy về được một đoạn thì H1 lục soát trong ví da vừa trộm được lấy toàn bộ số tiền và giấy tờ trong ví rồi vứt bỏ cái ví xuống dọc đường. Khi phát hiện bị mất tài sản, anh L kiểm tra Camera thì phát hiện H1 là người lấy trộm tài sản của mình nên anh L gọi điện thoại cho H1 kêu trả lại tài sản và trình báo với cơ quan Công an. Biết hành vi của mình bị phát hiện nên khoảng 02 giờ ngày 18/7/2023, H1 mang chiếc điện thoại di động Iphone 12 Pro, màu đen; chiếc điện thoại di động Iphone XS Max, màu vàng gold và toàn bộ giấy tờ tùy thân của anh L đến để lại trước cửa nhà rồi nhắn tin cho anh L hay. Riêng chiếc điện thoại Iphone 7 Plus, màu hồng H1 không trả lại mà mang đi cầm cho Đoàn Văn D1 ở khu phố A, thị trấn T được số tiền 800.000 đồng, sau đó D1 đưa cho Lê Huỳnh H4 (thường gọi là B) ở khu phố A, thị trấn T mang đi cầm cho Lư Vũ H5 (cửa hàng cầm đồ Hiền Đ) ở khu phố B, thị trấn T được số tiền là 800.000 đồng, mấy ngày sau D1 đã chuộc lại và làm rớt mất. Đối với số tiền mặt trong ví da của anh L, thì H1 khai khi lấy đếm được khoảng 7.500.000 đồng, H1 đã tiêu xài hết. Toàn bộ tài sản lấy trộm có được H1 không có chia cho T. Tại Cơ điều tra, Lê Minh H1 và Thái Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 27/KL-HĐĐGTS ngày 25 tháng 8 năm 2023 của Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện A, tỉnh Kiên Giang, kết luận:
3
- 01 (một) điện thoại di động Iphone 12 Pro, màu đen. Điện thoại đã qua sử dụng, mua vào năm 2021, có giá trị 9.000.000₫.
- 01 (một) điện thoại di động Iphone XS Max, màu vàng gold. Điện thoại đã qua sử dụng, mua vào tháng 5/2023, có giá trị 4.500.000₫.
- 01 (một) điện thoại di động, Iphone 7 Plus, màu hồng. Điện thoại đã qua sử dụng, mua vào tháng 6/2023 có giá trị 2.000.000₫ .
- 01 (một) chiếc nhẫn vàng PNJ, trọng lượng 01 (một) chỉ, có giá trị 5.370.000₫.
- 01 (một) ví da màu nâu, không có quy cách, nhãn hiệu, chủng loại, hiện tại tài sản bị mất không còn nên không định giá được.
Tổng giá trị tài sản cần định giá là 20.870.000 đồng (Hai mươi triệu tám trăm bảy mươi nghìn đồng).
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện A đã tạm giữ số vật chứng sau:
- 01 (một) điện thoại di động Iphone 12 Pro, màu đen.
- 01 (một) điện thoại di động Iphone XS Max, màu vàng gold.
Về xử lý vật chứng: Sau khi phục vụ cho công tác điều tra và định giá tài sản, Cơ quan điều tra đã trả lại 02 chiếc điện thoại di động cho người bị hại Phù M.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Phù Minh L yêu cầu bồi thường giá trị số tài sản chưa thu hồi được gồm: 01 (một) điện thoại di động Iphone 7 Plus với giá 2.000.000 đồng; 01 (một) chiếc nhẫn vàng PNJ trọng lượng 01 (một) chỉ với giá 5.370.000 đồng; tiền Việt Nam 10.000.000 đồng. Tổng cộng số tiền yêu cầu bồi thường là 17.370.000 đồng. Bị can Lê Minh H1 đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại, nhưng hiện tại chưa có tiền bồi thường.
Tại Cáo trạng số 89/CT-VKS-AM ngày 23-11-2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang truy tố Lê Minh Hảo và Thái Văn Toàn về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
- Kiểm sát viên kết luận bị cáo Lê Minh H1 và Thái Văn T phạm tội trộm cắp tài sản và đề nghị:
- + Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Minh H1 từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
- + Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 và Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Thái Văn T từ 06 đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng.
4
Về trách nhiệm dân sự, ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận tại phiên tòa: bị cáo T bồi thường 7.000.000 đồng; bị cáo H1 bồi thường thiệt hại cho anh L với tổng số tiền 10.370.000 đồng.
- Bị cáo H1 thừa nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của anh L đúng như nội dung Cáo trạng đã nêu; về trách nhiệm dân sự đồng ý để bị cáo T bồi thường thay 7.000.000 đồng; bị cáo H1 bồi thường cho anh L với tổng số tiền 10.370.000 đồng, nhưng hiện nay chưa có tiền để bồi thường ngay.
- Bị cáo T thừa nhận có nhìn thấy bị cáo H1 lấy trộm tài sản trong cửa hàng điện thoại di động của anh L và có điều khiển xe chở bị cáo H1 nhanh chóng tẩu thoát khỏi hiện trường, tài sản lấy trộm được bị cáo H1 tự chi xài, bị cáo không yêu cầu được hưởng phần nào. Bị cáo đồng ý bồi thường cho anh L 7.000.000 đồng, trong vòng 1 tháng giao tiền.
- Bị hại anh L trình bày: Bị cáo H1 đã giao trả lại cho anh 01 chiếc điện thoại di động Iphone 12 Pro, màu đen; 01 chiếc điện thoại di động Iphone XS Max, màu vàng gold và toàn bộ giấy tờ tùy thân. Đối với số tài sản còn lại trị giá 17.370.000 đồng, anh L đồng ý cho T bồi thường 7.000.000 đồng trong thời hạn 1 tháng; bị cáo H1 bồi thường số tiền 10.370.000 đồng; về trách nhiệm hình sự đề nghị xử lý theo quy định.
Trong lời nói sau cùng, các bị cáo trình bày đã biết lỗi, rất hối hận về hành vi của bản thân gây ra, xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội, tội danh: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó có đủ căn cứ để kết luận:
[2.1] Khoảng 17 giờ ngày 17/7/2023 tại ấp M, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang, Lê Minh H1 đã thực hiện hành vi lén lút lấy trộm tài sản của anh Phù Minh L là 01 (một) điện thoại di động Iphone 12 Pro, màu đen; 01 (một) điện
5
thoại di động Iphone XS Max, màu vàng gold; 01 (một) điện thoại di động Iphone 7 Plus, màu hồng; 01 (một) cái ví da màu nâu trong ví da có: Tiền Việt Nam khoảng 10.000.000 đồng; 01 (một) chiếc nhẫn vàng PNJ trọng lượng 01 (một) chỉ; 02 (hai) giấy chứng nhận đăng ký xe; 04 (bốn) thẻ ATM; 01 (một) giấy căn cước công dân; 01 (một) giấy phép lái xe. Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 27/KL-HĐĐGTS ngày 25 tháng 8 năm 2023, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện A, tỉnh Kiên Giang, kết luận tổng giá trị tài sản cần định giá là 20.870.000 đồng. Như vậy, tài sản bị cáo H1 chiếm đoạt của anh L bao gồm số tiền và vàng có tổng giá trị là 30.870.000 đồng.
Đối với Thái Văn T tuy không trực tiếp thực hiện hành vi lấy trộm tài sản của anh L, nhưng trực tiếp nhìn thấy H1 lấy trộm tài sản và là người điều khiển xe chở H1 nhanh chóng tẩu thoát khỏi hiện trường. Như vậy, Thái Văn T đã có hành vi giúp sức cho H1 để H1 lấy trộm được tài sản của anh L và nhanh chóng rời khỏi hiện trường, tránh sự phát hiện của anh L.
[2.2] Khi thực hiện hành vi, các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; có khả năng nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác và giúp sức cho người khác chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn thực hiện nên thuộc trường hợp phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp; bị cáo H1 là người trực tiếp thực hiện hành vi lén lút để chiếm đoạt tài sản, bị cáo T là người giúp sức cho bị cáo H1 chiếm đoạt tài sản và tài sản bị cáo H1 chiếm đoạt có tổng giá trị là 30.870.000 đồng, đây là tình tiết định tội theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo phạm tội có tính chất giản đơn, trước khi thực hiện hành vi không bàn bạc hay phân công nhiệm vụ gì, trong đó bị cáo H1 là người thực hành, bị cáo T là người giúp sức. Do đó, Viện kiểm sát truy tố và kết luận bị cáo Lê Minh H1 và Thái Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Về hình phạt:
[3.1] Về tình tiết tăng nặng, tính chất của vụ án: Ngày 24/01/2022 bị cáo H1 đã bị xử phạt 10 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, vào thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người dưới 18 tuổi và bị kết án về tội phạm nghiêm trọng, nên được coi là không có án tích theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 107 Bộ luật hình sự. Do đó, trong vụ án này xác định bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tuy các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhưng hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm
6
đến tài sản hợp pháp của bị hại; gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, gây tâm lý lo lắng, bất an trong nhân dân. Do đó, HĐXX cần xử phạt các bị cáo hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội các bị cáo đã gây ra, nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải; bị cáo T phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự. HĐXX xác định đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; riêng bị cáo T được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[3.3] Về quyết định hình phạt, HĐXX thấy bị cáo H1 phạm tội ít nghiêm trọng nhưng gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, trước đây đã bị kết án và xử phạt hình phạt tù, tuy được xác định là không có án tích nhưng bị cáo vẫn không sửa chữa lỗi lầm mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, nên cần áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, buộc chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định là phù hợp với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo đã gây ra và nhằm răn đe, phòng ngừa chung.
Đối với bị cáo T chỉ giữ vai trò là người giúp sức, không yêu cầu được chia tài sản lấy trộm được và không được hưởng lợi ích gì, tự nguyện bồi thường cho bị hại nên mức xử phạt thấp hơn bị cáo H1. Thấy, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng, không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội nên HĐXX thống nhất ý kiến của Kiểm sát viên, áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo.
[4] Về trách nhiệm dân sự, bị hại anh L yêu cầu bồi thường thiệt hại cho anh với tổng số tiền 17.370.000 đồng. Tại phiên tòa bị hại và các bị cáo đã tự nguyện thỏa thuận về việc bồi thường nên HĐXX ghi nhận. Theo đó: bị cáo T có trách nhiệm bồi thường cho anh L số tiền 7.000.000 đồng, trong thời hạn 1 tháng, kể từ ngày 09/01/2024; bị cáo H1 có trách nhiệm bồi thường cho anh L với số tiền 10.370.000 đồng, khi án có hiệu lực pháp luật.
[5] Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A đã giao trả cho bị hại anh L 01 (một) điện thoại di động Iphone 12 Pro, màu đen và 01 (một) điện thoại di động Iphone XS Max, màu vàng gold, nên không HĐXX xem xét xử lý.
7
[6] Về án phí, mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng; các bị cáo H1, T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ bồi thường thiệt hại như sau:
- + Bị cáo H1 là 518.500 đồng (10.370.000 đồng x 5% ).
- + Bị cáo T là 350.000 đồng (7.000.000 đồng x 5% ).
[7] Đối với Đoàn Văn D1, Lê Huỳnh H4, Lư Vũ H5 không biết chiếc điện thoại đã nhận cầm cố là tài sản trộm cắp có được, nên cơ quan Công an không xem xét xử lý trong vụ án này là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1- Tuyên bố: Bị cáo Lê Minh H1 và Thái Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản.
1.1- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Minh H1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 28/7/2023).
1.2- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 và Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Thái Văn T 06 (sáu) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày tuyên án (ngày 09/01/2024) .
Giao cho Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang giám sát, giáo dục người được hưởng án treo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; các điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự, ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị hại với các bị cáo. Cụ thể: bị cáo T có trách nhiệm bồi thường cho anh L số tiền 7.000.000 đồng, trong thời hạn 1 tháng, kể từ ngày 09/01/2024; bị cáo H1 có trách nhiệm bồi thường cho anh L với số tiền 10.370.000 đồng, khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án
8
theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
3- Về án phí, căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Lê Minh H1 phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 518.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm, tổng cộng là 718.500 đồng.
Bị cáo Thái Văn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 350.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, tổng cộng là 550.000 đồng.
4- Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 09-01-2024).
Trường hợp phần trách nhiệm dân sự trong bản án này được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Chí Công |
Bản án số 02/2024/HS-ST ngày 09/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 02/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Minh H và Thái Văn T Trộm cắp tài sản
