|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ TỈNH LAI CHÂU Bản án số: 02/2023/HS-ST Ngày 08 tháng 11 năm 2023 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phan Hồng Ngoãn.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Lường Văn Quý và ông Sùng A Dờ.
Thư ký phiên tòa: ông Phùng Trung Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: bà Lê Ngọc Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. Toà án nhân dân huyện Sìn Hồ mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2023/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo: Tòng Văn Th ; Tên gọi khác: không; sinh năm: 1985; nơi sinh: huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: Bản Pa Kh, xã Pa Kh, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: trồng trọt; Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Tòng Văn H (Đã chết) và con bà Lò Thị X, sinh năm 1965; Vợ: Chảo Thị S, sinh năm 1989; Bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2008; con nhỏ nhất sinh năm 2012; Tiền án: không; Tiền sự: không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 07/6/2023, bị tạm giam từ ngày 16/6/2023 tại nhà tạm giữ Công an huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu cho đến nay; (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Tòng Văn Th, sinh năm 1985, trú tại bản Pa Kh, xã Pa Kh, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu khai, bản thân là người nghiện ma túy. Vào khoảng 11 giờ ngày 07/6/2023, Tòng Văn Th một mình lấy xe mô tô BKS 25B1-051.11 của gia đình đi tìm mua ma túy để sử dụng. Đi vào trong bản Pa Khóa thì gặp Lò Thị M ở cùng bản đang đứng ở ngoài đường, nên hỏi mua ma túy của M 80.000 đồng. Nhận tiền, M đưa cho Thân 02 gói Heroine, gói thứ nhất được gói ngoài bằng nilon màu xanh; gói thứ hai được gói ngoài bằng nilon màu hồng. Th cất 02 gói Heroine mua được vào túi quần bên phải đang mặc và điều khiển xe đi tìm chỗ mua bật lửa để sử dụng Heroine.
Đến hồi 11 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến bản Hồng Quảng 1, xã Pa Khóa thì gặp tổ công tác đang làm nhiệm vụ, do lo sợ nên Th cho tay vào túi quần bên phải, móc ra 02 gói Heroine và ném ra ngoài. Gói thứ nhất được gói ngoài bằng nilon màu xanh rơi xuống taluy âm cách vị trí Th dừng xe 04m. Gói thứ hai được gói ngoài bằng nilon màu hồng rơi xuống đất tại chỗ Th dừng xe. Lúc này, Th đã dùng tay phải nhặt gói nilon màu hồng này lên, cho vào miệng nhai thì bị tổ công tác khống chế, yêu cầu nhả gói nilon màu hồng trong miệng ra và tự giác nhặt gói nilon màu xanh đã ném xuống taluy âm ra giao nộp. Th đã tự giác nhả gói nilon màu hồng trong miệng ra và nhặt gói nilon màu xanh lên giao nộp và khai nhận 02 gói này là ma túy, loại Heroine của Th, tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định.
Tại bản Kết luận giám định số 59 ngày 07/6/2023, của người giám định tư pháp theo vụ việc kết luận: 02 gói chất bột màu trắng gửi giám định có khối lượng là 0,22 gam. Cơ quan điều tra đã gửi toàn bộ số chất bột màu trắng trên đi giám định chất ma túy. Tại bản kết luận giám định số 701/KL-KTHS ngày 09/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lai Châu kết luận: 02 Mẫu chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, loại: Heroine (Heroin).
Tại bản Cáo trạng số: 75/CT-VKSSH ngày 03 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu để xét xử bị cáo Tòng Văn Th, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Tòng Văn Th thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã truy tố là không oan, không sai.
Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Tòng Văn Th, phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Tòng Văn Th từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù; Về hình phạt bổ sung: đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Về vật chứng: áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a,c khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu huỷ: 02 mảnh nilon màu xanh; 01 mảnh nilon màu hồng, đây là vật chứng của vụ án do không còn giá trị sử dụng; Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại WAVE S, màu đen trắng, BKS 25B1-051.11, kèm theo chìa khóa, tạm giữ của Tòng Văn Th . Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định được chiếc xe này là tài sản chung của vợ chồng bị cáo, khi Th điều khiển chiếc xe này làm phương tiện Tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân thì vợ bị cáo là chị Chảo Thị S không biết, nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu ½ giá trị xe nộp ngân sách nhà nước và trả lại ½ giá trị tài sản chiếc xe mô tô này cho vợ bị cáo tên là Chảo Thị S, sinh năm 1989; trú tại bản Pa Kh, xã Pa Kh, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu; đối với 0,22 gam Heroine thu giữ của Tòng Văn Th, Cơ quan điều tra đã gửi toàn bộ đi giám định, mẫu vật gửi giám định không hoàn lại nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết; Về án phí: theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Gia đình bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Tại phiên tòa bị cáo có ý kiến xin được miễn án phí hình sự sơ thẩm nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo Tòng Văn Th không bổ sung ý kiến gì thêm, nhất trí và không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.
Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xin được miễn án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình theo quy định tại Điều 37, Điều 42 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các tài liệu, chứng cứ được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đều là hợp pháp.
- [2] Đánh giá chứng cứ, yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên, hành vi của bị cáo: tại phiên toà, bị cáo Tòng Văn Th đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với các lời khai của bị cáo và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, chứng cứ đã thu thập đúng trình tự, thủ tục tố tụng hình sự; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 11 giờ 30 phút ngày 07/6/2023, tại bản Hồng Quảng 1, xã Pa Khóa, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, Tòng Văn Th đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,22 gam Heroine, mục đích để sử dụng, thì bị Công an huyện Sìn Hồ phát hiện, bắt quả tang thu giữ vật chứng.
Bị cáo Tòng Văn Th là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình. Hành vi của bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm vào chính sách độc quyền về quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Ma túy gây ảnh hưởng đến sức khỏe của con người, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, gây ảnh hưởng đến an ninh nông thôn tại địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo nhận thức được điều đó nhưng vì mục đích tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc, xử phạt tù đối với bị cáo để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và cũng là để phòng, chống các loại tội phạm, đặc biệt là các tội phạm về ma túy tại địa phương.
Do đó, lời luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố và áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Tòng Văn Th từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù đối với bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên cần được chấp nhận.
Đối với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, trả lại ½ giá trị tài sản chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, loại WAVE S, màu đen trắng, BKS 25B1-051.11 này cho vợ bị cáo tên là Chảo Thị S, sinh năm 1989; trú tại bản Pa Kh, xã Pa Kh, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu là không có căn cứ vì khi thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo Tòng Văn Th đã dùng xe máy này làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, mặc dù bị cáo Th đã khai nhận số tiền mua xe là do vợ chồng bị cáo bỏ tiền ra để mua xe và đăng ký chủ xe là tên bị cáo. Tuy nhiên trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không đưa ra được tài liệu, chứng cứ để chứng minh số tiền mua chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, loại WAVE S, màu đen trắng, BKS 25B1-051.11 là do vợ bị cáo là chị Chảo Thị S bỏ ra. Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, các tài liệu và các chứng cứ đã thể hiện có trong hồ sơ đã xác định về nguồn gốc tài sản được hình thành và các giấy tờ đều chứng minh là do bị cáo Tòng Văn Th làm chủ sở hữu. Chị Chảo Thị S không có tài liệu và chứng cứ để chứng minh công sức đóng góp số tiền để mua chiếc xe máy như đã nêu trên là của chị S . Vì vậy chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, loại WAVE S, màu đen trắng, BKS 25B1-051.11 thuộc sở hữu của bị cáo Tòng Văn Th nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước để đảm bảo đúng các quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự. Vì vậy Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân.
- [3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo Tòng Văn Th không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- [4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa. Bị cáo Tòng Văn Th thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại là vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo Quyết định số 861/QĐ-TTg ngày 04/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ. Vì vậy bị cáo được hưởng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- [5] Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo làm nghề trồng trọt và thu nhập không ổn định, gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
- [6] Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a khoản 1Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a,c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu và tiêu huỷ: 02 mảnh nilon màu xanh; 01 mảnh nilon màu hồng, đây là vật chứng của vụ án do không còn giá trị sử dụng; tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại WAVE S, màu đen trắng, BKS 25B1-051.11, kèm theo chìa khóa. đăng ký đứng tên bị cáo Tòng Văn Th là người chủ sở hữu, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Thân đã dùng chiếc xe máy nêu trên vào việc phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước; đối với 0,22 gam Heroine thu giữ của Tòng Văn Th, Cơ quan điều tra đã gửi toàn bộ đi giám định, mẫu vật gửi giám định không hoàn lại nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- [7] Về án phí: theo quy định tại Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo Tòng Văn Th là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại bản Bản Pa Kh, xã Pa Kh, huyện Sìn Hồ là bản đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo Quyết định số 861/QĐ-TTg ngày 04/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ. Tại phiên tòa bị cáo có ý kiến xin được miễn án phí hình sự sơ thẩm nên Hội đồng xét xử quyết định miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- [8] Về quyền kháng cáo: bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 08/11/2023).
- [10] Về trách nhiệm của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú và những người liên quan: Thông qua vụ án này, đề nghị cấp chính quyền địa phương các xã thị trấn, huyện Sìn Hồ cần nâng cao tuyên truyền, giải thích cho người dân có ý thức chấp hành tốt các chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Tăng cường đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy và có các biện pháp giữ gìn trật tự an ninh trên địa bàn.
Về nguồn gốc số Heroine, Tòng Văn Th khai nhận mua được của Lò Thị M, ở cùng bản Pa Kh . Tại Cơ quan điều tra, M không thừa nhận việc đã bán ma túy cho Tòng Văn Th vào ngày 07/6/2023. Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất giữa Th và M, nhưng M cũng không thừa nhận. Ngoài lời khai duy nhất của Th, không có tài liệu chứng cứ gì khác chứng minh, do đó, không đủ cơ sở để xử lý đối với Lò Thị M.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm a khoản 1Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án đối với bị cáo.
- 1. Về tội danh: tuyên bố bị cáo Tòng Văn Th, phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
-
2. Về hình phạt: xử phạt bị cáo Tòng Văn Th 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 07/6/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- 3. Về xử lý vật chứng: tịch thu, tiêu hủy 02 mảnh nilon màu xanh; 01 mảnh nilon màu hồng; tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại WAVE S, màu đen trắng, BKS 25B1-051.11, kèm theo chìa khóa.
- 4. Về án phí sơ thẩm: miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- 5. Về quyền kháng cáo: bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 08/11/2023).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Hồng Ngoãn |
Bản án số 02/2023/HS-ST ngày 08/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 02/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tòng Văn Th, phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
