|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S TỈNH QUẢNG NGÃI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
Bản án số: 02/2024/HNGĐ-ST.
Ngày 08-8-2024.
V/v: “ Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con khi ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh K Lít.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Nguyệt.
2. Ông Đinh Văn Hoát.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Hồng Buôi - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện S, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 01/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2024/QĐXXST-NHGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2024/QĐST-HNGĐ ngày 24/7/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đinh Thị V.
Địa chỉ: Thôn L, xã Sơn B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Hồng Thị Tràng - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Quảng Ngãi.
- Bị đơn: Anh Đinh Văn Đ.
Địa chỉ: Thôn L, xã Sơn B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi.
- Người phiên dịch: Ông Đinh Văn Thương – Phó Chủ tịch Mặt Tổ quốc Việt Nam thị trân D.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 10/01/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án của nguyên đơn chị Đinh Thị V trình bày:
Chị và anh Đinh Văn Đ tự nguyện tìm hiểu, yêu nhau đến ngày 27 tháng 4 năm 2021 chị với anh Đ đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Sơn B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi theo quy định của pháp luật.
Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc tuy có lúc cũng cãi nhau nhưng không nghiêm trọng. Đến đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng không có công ăn việc làm, kinh tế thiếu thốn, luôn bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau nên chị và anh Đ đã ly thân từ năm 2022 đến nay, hai người sống không quan tâm đến nhau nữa.
Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đinh Văn Đ.
- - Về con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung là cháu Đinh Duy H1, sinh ngày 10/11/2010 và cháu Đinh Thanh H2, sinh ngày 22/10/2016.
- Khi ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản riêng và nghĩa vụ tài sản: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Đinh Văn Đ: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, mặc dù Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng nhưng anh Đí từ chối ký nhận văn bản tố tụng và không đến Tòa án để trình bày ý kiến. Do đó, trong hồ sơ không thể hiện ý kiến của bị đơn anh Đinh Văn Đ. Tòa án đã lập các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa sơ thẩm:
Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; bên nguyên đơn cũng chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Bị đơn Đinh Văn Đ không chấp hành quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các quy định của các Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 8, Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 39 Bộ luật Dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Chấp nhận cho chị Đinh Thị V được ly hôn với anh Đinh Văn Đ.
Giao cháu Đinh Duy H1, sinh ngày 10/11/2010 và cháu Đinh Thanh H2, sinh ngày 22/10/2016 cho chị Đinh Thị V trực tiếp nuôi dưỡng, chị V không yêu cầu anh Đinh Văn Đ cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về án phí: Giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các thủ tục tố tụng theo đúng quy định pháp luật cho anh Đinh Văn Đ nhưng anh Đ từ chối ký nhận. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy việc Tòa án tiến hành lập các văn bản tố tụng là phù hợp, đảm bảo đúng quy định tại khoản 4 Điều 177 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, anh Đinh Văn Đ tiếp tục vắng mặt không rõ lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Đinh Văn Đ.
- Thẩm quyền thụ lý, giải quyết: Theo đơn khởi kiện ngày 10/01/2024 và các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn chị Đinh Thị V cung cấp có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Sơn H thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Xác định quan hệ tranh chấp: Qua xem xét tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của đương sự tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy, chị Đinh Thị V và anh Đinh Văn Đ đăng ký kết hôn vào ngày 27 tháng 4 năm 2021 tại Ủy ban nhân dân xã Sơn B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi đúng quy định của pháp luật theo khoản 1 Điều 8; Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh.
- Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Đinh Thị V đối với anh Đinh Văn Đ, Hội đồng xét xử nhận thấy: Chị Đinh Thị V và anh Đinh Văn Đ kết hôn vào ngày 27 tháng 4 năm 2021 tại Ủy ban nhân dân xã Sơn B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi trên cơ sở tự nguyện là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chị sống hạnh phúc tuy có lúc cũng cãi nhau nhưng không nghiêm trọng. Đến đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân vợ chồng không có công ăn việc làm ổn định, kinh tế khó khăn, luôn bất đồng quan điểm sống, không còn tôn trọng nhau. Mâu thuẫn vợ chồng chị cũng đã được cán bộ thôn hòa giải, hai bên gia đình góp ý, khuyên bảo nhưng vẫn không thay đổi. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nay chị Đinh Thị V yêu cầu Toà án giải quyết được ly hôn với anh Đinh Văn Đ. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận cho chị Đinh Thị V được ly hôn với anh Đinh Văn Đ là phù hợp với khoản 1 Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
- Về con chung: Vợ chồng chị Đinh Thị V và anh Đinh Văn Đ có 02 con chung là cháu Đinh Duy H1, sinh ngày 10/11/2010 và cháu Đinh Thanh H2, sinh ngày 22/10/2016. Theo nguyện vọng của cháu H1 và cháu H2, khi cha mẹ ly hôn thì cháu H1 và cháu H2 có nguyện vọng sống với mẹ, do anh Đ không quan tâm, chăm sóc con. Vì vậy, Hội đồng xét xử giao cháu Đinh Duy H1 và cháu Đinh Thanh H2 cho chị Đinh Thị V trực tiếp nuôi con, chị V không yêu cầu anh Đinh Văn Đ cấp dưỡng nuôi cháu H1 và cháu H2 là phù hợp với Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
- Về tài sản riêng và nghĩa vụ tài sản: Không có, Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.
- Theo ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn chị Đinh Thị V trình bày:
Qua nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ cho thấy, chị Đinh Thị V và anh Đinh Văn Đ đăng ký kết hôn ngày 27/4/2021 tại Ủy ban nhân dân xã Sơn B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng chị có với nhau 02 người con là cháu Đinh Duy H1, sinh ngày 10/11/2010 và cháu Đinh Thanh H2, sinh ngày 22/10/2016.
Đến đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không có công ăn việc làm ổn định, luôn bất đồng quan điểm sống, không còn tôn trọng nhau. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nay chị Đinh Thị V yêu cầu Toà án giải quyết được ly hôn với anh Đinh Văn Đ. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Đinh Thị V được ly hôn với anh Đinh Văn Đ.
Giao cháu Đinh Duy H1, sinh ngày 10/11/2010 và cháu Đinh Thanh H2, sinh ngày 22/10/2016 cho chị Đinh Thị V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, chị V không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung.
Nhận định của đại diện Viện kiểm sát, ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn phù hợp với nhận định của Tòa án nên được chấp nhận.
- Về án phí: Chị Đinh Thị V được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 8; Điều 9; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 39 Bộ luật Dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chị Đinh Thị V được ly hôn anh Đinh Văn Đ.
- Về con chung: Giao cháu Đinh Duy H1, sinh ngày 10/11/2010 và cháu Đinh Thanh H2, sinh ngày 22/10/2016 cho chị Đinh Thị V trực tiếp nuôi con, chị V không yêu cầu anh Đinh Văn Đ cấp dưỡng nuôi con chung.
Không ai có quyền cản trở việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, không được lạm dụng việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: - Chị Đinh Thị V được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đinh K Lít |
Bản án số 02/2024/HNGĐ-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S, TỈNH QUẢNG NGÃI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 02/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Đinh Thị V xin ly hôn anh Đ. Chấp nhận cho chị V ly hôn anh Đ
