TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 02/2024/HNGĐ-PT
Ngày: 08/01/2024
V/v: Tranh chấp về ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Quách Thanh Bình
Các Thẩm phán: Bà Đặng Thị Bích Loan
Ông Phan Trịnh Minh Đức
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Vân - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Tiển - Kiểm sát viên.
Vào ngày 08 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 79/2023/TLPT-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn”.
Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 1139/2023/HNGĐ-ST ngày 26 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 5504/2023/QĐ-PT ngày 23 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16190/2023/QĐPT-HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Phương Quỳnh N, sinh năm 1990 (có mặt);
Địa chỉ: A N, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh;
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Đặng N1, Luật sư của Văn phòng L-C, thuộc đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt)
Địa chỉ: G L, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Ông Lê Minh T, sinh năm 1990 (vắng mặt)
Địa chỉ: 2 L, Phường G, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty Cổ phần T1 (vắng mặt)
Địa chỉ: A H, Phường B, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Người kháng cáo: Bà Lê Phương Quỳnh N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 21/10/2021 và lời khai của nguyên đơn - bà Lê Phương Quỳnh N trình bày:
Bà Lê Phương Quỳnh N và ông Lê Minh T tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, quận T (nay là thành phố T), TP theo Giấy chứng nhận kết hôn số 116/2015 ngày 18/8/2015. Quá trình chung sống có hai con chung tên Lê Gia Phương N2, sinh ngày 24/7/2016 và Lê Gia Minh Q, sinh ngày 02/10/2020.
Khi mới cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc được 03 năm. Từ cuối năm 2019 mâu thuẫn xảy ra, nguyên nhân do ông T không chung thủy, nên vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, làm cuộc sống không hạnh phúc, bà N đã nhiều lần khuyên ông T thay đổi để tiếp tục cuộc sống vợ chồng và vì tương lai các con nhưng không được. Bà N và ông T đã ly thân từ năm 2021 đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn kéo dài trầm trọng, không thể hàn gắn, nên bà N yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà N được ly hôn với ông T.
· Về con chung: Bà N yêu cầu được nuôi hai con tên Lê Gia Phương N2 và Lê Gia Minh Q. Yêu cầu ông T mỗi tháng cấp dưỡng nuôi hai con số tiền là 2.500.000 đồng x 02 trẻ = 5.000.000 đồng.
· Về tài sản chung:
+ Bà N yêu cầu công nhận quyền sở hữu đối với tài sản là nhà đất số B L, Phường G, quận B, TP . (sau đây gọi tắt là nhà, đất 229/3/8) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 113051, số vào sổ cấp GCN: CH00262 do UBND Quận B cấp ngày 23/8/2010, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận B, TP . cập nhật ngày 04/4/2019 sang tên ông T và bà N và căn hộ mã số B4-03 dự án Chung cư V Gold S H, Phường B, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (sau đây gọi tắt là căn hộ B4-03) theo Văn bản chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở được công chứng ngày 28/02/2019 số 290, quyển số 01 tại Phòng C tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, là tài sản riêng của bà N. Vì số tiền mua hai tài sản này là từ 9.000.000.000 đồng bà N bán căn nhà là tài sản riêng tại số B Đ, phường P, Quận A, TP . vào tháng 01/2019. Còn số tiền 1.800.000.000 đồng do ông T bán nhà ở quận T, ông T đã dùng 1.400.000.000 đồng mua xe ô tô con, nhãn hiệu Ford, màu trắng, biển số đăng ký 51H-020.58, phần còn lại sử dụng đầu tư quán C1, tại địa chỉ A N, phường A, quận B, TP .. Bà N đồng ý trả cho ông T 75.000.000 đồng do ông T có đóng góp vào quán C1. Bà N và ông T đã giải quyết xong.
- Về nợ: Bà N xác nhận không có nợ chung.
- Về án phí thuận tình ly hôn: Bà N thỏa thuận đóng theo quy định của pháp luật.
Đối với chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản bà N tự nguyện chịu đối với các tài sản mà bà N yêu cầu giải quyết, không yêu cầu ông T thanh toán.
* Tại đơn yêu cầu bổ sung chia tài sản chung ngày 28/4/2022, bị đơn - ông Lê Minh T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông T đồng ý thuận tình ly hôn với bà N.
- Về con chung: Ông T yêu cầu được nuôi dưỡng cả hai con chung, không yêu cầu cấp dưỡng. Trong trường hợp mỗi bên chỉ được nuôi một con chung, thì ông T yêu cầu được nuôi trẻ Lê Gia Phương N2. Giao trẻ Lê Gia Minh Q, cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng. Không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung:
+ Đối với tài sản là nhà, đất số 229/3/8 và căn hộ B, một xe ô tô con, nhãn hiệu Ford, màu trắng, biển số đăng ký: 51H-020.58 theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 456159 ngày 02/4/2019 tại Công an Thành phố H do bà N đứng tên, số máy: YMWQAC53727, số khung: XMAWAKC53727, ông T yêu cầu được chia đôi, mỗi bên hưởng ½ giá trị.
+ Đối với Quán C1 có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 4108034674 ngày 07/8/2017 tại địa chỉ: A N, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, do ông đứng tên đại diện hộ kinh doanh, trị giá 150.000.000 đồng, phần ông T được hưởng là ½ x 150.000.000 đồng = 75.000.000 đồng. Ông T và bà N đã giải quyết xong.
- Về nợ: Ông T không yêu cầu giải quyết.
Đối với chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản ông T tự nguyện chịu đối với các tài sản mà ông T yêu cầu giải quyết, không yêu cầu bà N thanh toán.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Công ty Cổ phần T1:
Đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt.
Tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 1139/2023/HNGĐ-ST ngày 26 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, đã quyết định:
“- Căn cứ các Điều 28; Điều 35, Điều 39; Điều 146; Điều 147; Điều 203; Điều 227; Điều 271; Điều 273; Điều 278; Điều 280 Bộ Luật Tố Tụng dân sự;
Căn cứ Điều 33, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn - bà Lê Phương Quỳnh N:
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn của bà Lê Phương Quỳnh N và ông Lê Minh T.
1.2. Về con chung: Giao cho bà Lê Phương Quỳnh N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung tên: Lê Gia Phương N2, sinh ngày 24/7/2016 và Lê Gia Minh Q, sinh ngày 02/10/2020.
Về cấp dưỡng nuôi con: Hàng tháng ông T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con số tiền: 02 x 2.500.000 đồng = 5.000.000 đồng. Bắt đầu thi hành từ tháng 7 năm 2023. Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh.
Ông Lê Minh T được quyền đến thăm nuôi, chăm sóc, giáo dục con chung. Vì quyền lợi của con khi cần thiết ông Lê Minh T và bà Lê Phương Quỳnh N được quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc tiền cấp dưỡng nuôi con.
Kể từ khi bà Lê Phương Quỳnh N có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Lê Minh T chưa thực hiện việc cấp dưỡng nêu trên thì hàng tháng Lê Minh T còn phải trả lãi cho bà Lê Phương Quỳnh N theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả.
1.3. Về tài sản chung:
1.3.1. Đối với nhà đất tại số B L, Phường G, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 113051, số vào sổ cấp GCN: CH00262 ngày 23/8/2010 cập nhật ngày 04/4/2019 được cấp cho ông Lê Minh T và bà Lê Phương Quỳnh N tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận B, Thành phố Hồ Chí Minh có trị giá 4.230.344.000 đồng là tài sản chung của ông T bà N trong thời kỳ hôn nhân.
Phần bà N, ông T được hưởng ½ trị giá nhà đất là 4.230.344.000 đồng: 2 = 2.115.172.000 đồng.
1.3.2. Đối với căn hộ mã số B4-03 dự án Chung cư V H, Phường B, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo Văn bản chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở được Công chứng ngày 28/02/2019 số 290 quyển số 01 tại Phòng C tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có trị giá 2.050.000.000 đồng.
Phần bà N được nhận 7/10 trên giá trị tài sản chung 2.050.000.000 đồng là 1.435.000.000 đồng. Phần ông T được nhận 03/10 phần giá trị tài sản chung 2.050.000.000 đồng là 615.000.000 đồng
Không chấp nhận yêu cầu của bà N công nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại nhà đất tại số B L, Phường G, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 113051, số vào sổ cấp GCN: CH00262 ngày 23/8/2010 cập ngày ngày 04/4/2019 được cấp cho ông Lê Minh T và bà Lê Phương Quỳnh N tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận B, Thành phố Hồ Chí Minh và căn hộ mã số B4-03 dự án Chung cư V Gold S H, Phường B, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo Văn bản chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở được Công chứng ngày 28/02/2019 số 290 quyển số 01 tại Phòng C tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu là sở hữu riêng của bà.
Bà N được ưu tiên nhận căn hộ mã số B4-03 dự án Chung cư V Gold S H, Phường B, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo Văn bản chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở được Công chứng ngày 28/02/2019 số 290 quyển số 01 tại Phòng C tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và bà N sẽ thanh toán cho ông T số tiền ông T được chia 03 phần trên 2.050.000.000 đồng là 615.000.000 đồng ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật và các khoản phí còn lại chưa thanh toán cho Công ty Cổ phần T1.
Ngay khi bà N thanh toán đủ cho ông T số tiền trên thì bà N được quyền sở hữu căn hộ này. Công ty Cổ phần T1 có nghĩa vụ hoàn tất các thủ tục đứng tên sở hữu đối với căn hộ trên của bà N khi bà N hoàn tất các nghĩa vụ tài chính còn lại theo qui định đối với công ty.
Ông T được nhận nhà đất tại số B L, Phường G, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 113051, số vào sổ cấp GCN: CH00262 ngày 23/8/2010 cập nhật ngày 04/4/2019 được cấp cho ông Lê Minh T và bà Lê Phương Quỳnh N tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận B, Thành phố Hồ Chí Minh và phải thanh toán cho bà N số tiền của bà N được chia ½ trị giá nhà đất là 4.230.344.000 đồng: 2 = 2.115.172.000 đồng, ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Ngay khi ông T thanh toán đủ cho bà N số tiền trên thì ông T được quyền sở hữu nhà đất này. Ông T được quyền liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để cập nhật quyền sử dụng đất ở quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo qui định.
1.3.3. Đối với 01 xe ô tô con, nhãn hiệu Ford, màu trắng, biển số đăng ký: 51H-020.58 theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 456159 ngày 02/4/2019 tại Công an Thành phố H do bà Lê Phương Quỳnh N đứng tên, số máy: YMWQAC53727, số khung: XMAWAKC53727 là tài sản chung của bà N, ông T trong thời kỳ hôn nhân. Bà N, ông T mỗi bên được nhận ½ trị giá xe là 800.000.000 đồng : 2 = 400.000.000 đồng.
Ông T được nhận ô tô này và thanh toán tiền cho bà N 400.000.000 đồng ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Ngay khi ông T thanh toán đủ cho bà N số tiền 400.000.000 đồng thì ông T được quyền sở hữu xe ô tô trên và bà N phải làm thủ tục công chứng để ông T thực hiện quyền sở hữu theo qui định, nếu bà Như k thực hiện thủ tục công chứng thì ông T được quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để tiến hành đăng ký quyền sở hữu xe ô tô trên theo qui định pháp luật.
1.4. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện về việc chia tài sản chung là Quán C1, có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 4108034674 ngày 07/8/2017 tại địa chỉ: A N, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, do ông Lê Minh T đứng tên đại diện hộ kinh doanh, trị giá 150.000.000 đồng, phần ông T được hưởng là ½ x 150.000.000 đồng = 75.000.000 đồng.
- Về thời hạn thi hành: Thi hành ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.”
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền và thời hạn kháng cáo.
Ngày 07/7/2023, bà Lê Phương Quỳnh N kháng cáo yêu cầu sửa Bản án sơ thẩm: Công nhận nhà, đất 229/3/8 và căn hộ B là tài sản riêng của bà N.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
* Nguyên đơn - bà Lê Phương Quỳnh N trình bày:
Bà N thay đổi nội dung kháng cáo như sau:
- Đồng ý xác nhận nhà, đất 229/3/8 và căn hộ B là tài sản chung của bà N và ông T,
- Không yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết đối với căn hộ B4-03 nữa;
- Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết chia nhà đất 229/3/8 theo tỷ lệ bà N nhận 7/10 giá trị, ông T nhận 3/10 giá trị vì nguồn gốc nhà, đất 229/3/8 được mua từ tiền bán căn nhà riêng của bà N tại số B Đ, phường P, Quận A, TP ., ông T không có đóng góp gì.
- Các phần quyết định khác bà Như k kháng cáo.
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn - Luật sư Nguyễn Đặng N1 trình bày:
Nhà, đất 229/3/8 được mua từ tiền của bà N bán căn nhà riêng của bà N tại số B Đ, phường P, Quận A, TP ., ông T không có đóng góp gì. Từ khi mua nhà, đất 229/3/8 cho đến khi được cấp Giấy chứng nhận bà N là người đi làm các giấy tờ, lúc đó vợ chồng ông T, bà N còn thuận thảo nên bà N mới đồng ý để tên cả hai vợ chồng trên Giấy chứng nhận chủ quyền nhà. Khi mua xong, căn nhà đem cho thuê, đến tháng 12/2019 ông T bắt đầu có người khác nên không cho thuê nữa. Nguyên nhân dẫn đến việc ly hôn chủ yếu là do lỗi của ông T, do đó đề nghị HĐXX áp dụng Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 sửa bản án sơ thẩm, phân chia nhà, đất 229/3/8 theo hướng bà N được hưởng 7/10 giá trị, ông T được hưởng 3/10 giá trị.
* Bị đơn - ông Lê Minh T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Công ty Cổ phần T1: Vắng mặt.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về thời hạn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bà N làm đúng thời hạn luật định.
- Về nội dung kháng cáo: Ngày 07/7/2023 bà N kháng cáo yêu cầu xác định nhà, đất 229/3/8 và căn hộ B4-03 là tài sản riêng của bà N. Tuy nhiên tại phiên tòa phúc thẩm bà N đã rút một phần yêu cầu kháng cáo đối với căn hộ B4-03, xác định nhà, đất 229/3/8 và căn hộ B là tài sản chung, yêu cầu chia nhà, đất 229/3/8 theo hướng bà N được hưởng 7/10 giá trị, ông T được hưởng 3/10 giá trị.
Bà N có cung cấp các tài liệu, chứng cứ thể hiện vào ngày 20/3/2019 bà N và mẹ có tất toán các sổ tiết kiệm, nhưng không có chứng cứ chứng minh đã sử dụng số tiền đã rút vào việc thanh toán tiền mua nhà, đất số 229/3/8. Căn cứ Hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở ngày 20/3/2019, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 113051, số vào sổ cấp GCN: CH00262 do Ủy ban nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 23/8/2010, cập nhật sang tên ông T và bà N ngày 04/4/2019 thì nhà, đất 229/3/8 được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân do hai vợ chồng cùng thực hiện, không có chứng cứ thể hiện bà N sử dụng tiền riêng để mua, không có căn cứ ai là người có công sức đóng góp nhiều hơn, cũng không có căn cứ chứng minh ông T có lỗi trong việc ly hôn. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng Điều 33, Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xác định đây là tài sản chung và chia mỗi người được hưởng 50% giá trị là có căn cứ, đúng pháp luật, nên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà N.
Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, đình chỉ xét xử một phần yêu cầu kháng cáo của bà N đã rút, không chấp nhận kháng cáo của bà N, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà N phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
- Đơn kháng cáo của bà Lê Phương Quỳnh N làm trong thời hạn luật định.
- Ông Lê Minh T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Công ty Cổ phần T1 đã được tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt, nên căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự trên.
[2] Về nội dung kháng cáo:
Căn cứ Hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở số công chứng 4572, quyển số 03 ngày 20/3/2019 tại Phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 113051, số vào sổ cấp GCN: CH00262 do Ủy ban nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 23/8/2010, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cập nhật ngày 04/4/2019 đã chuyển nhượng sang cho ông T và bà N, thể hiện ông T và bà N có nhận chuyển nhượng của ông Lê K và bà Nguyễn Thị Bình S nhà, đất 229/3/8 và đã được cấp giấy chứng nhận đúng quy định của pháp luật.
Căn cứ Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì nhà đất 229/3/8 được hình thành trong thời kỳ hôn nhân của ông T và bà N, nên đây là tài sản chung của ông T và bà N.
Bà N kháng cáo cho rằng nhà, đất 229/3/8 có được là do tiền riêng của bà N bán nhà đất tại số B Đ, phường P, Quận A, TP . với giá 9.000.000.000 đồng để mua và có cung cấp tài liệu là bản sao kê thể hiện số tiền bán nhà riêng. Đến ngày 20/3/2019 bà N và mẹ ruột là bà Lê Thị Phương Đ có tất toán hai sổ tiết kiệm tổng cộng là 5.021.106.849 đồng, nhưng không có chứng cứ chứng minh việc tất toán hai sổ tiết kiệm trên là để thanh toán cho việc mua nhà, đất 229/3/8.
Căn cứ lời khai của bà N và ông T đều thừa nhận tiền đặt cọc 100.000.000 đồng do ông T một mình giao cho bên bán ngày 13/3/2019, số tiền còn lại thanh toán bằng tiền mặt cho bên bán nhà. Bà N không có chứng cứ thể hiện sử dụng tiền riêng để mua nhà, đất 229/3/8, không có tài liệu, chứng cứ thể hiện có công sức đóng góp nhiều hơn ông T, cũng không có chứng cứ chứng minh ông T có lỗi trong việc ly hôn.
Căn cứ vào Biên bản định giá tài sản ngày 28/12/2022 của Hội đồng định giá quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, thì giá trị nhà, đất 229/3/8 có giá trị là 4.230.344.000 đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định phân chia cho ông T và bà N mỗi người được hưởng 50% giá trị nhà đất, tương đương 2.115.172.000 đồng. Giao cho ông T toàn bộ nhà, đất 229/3/8, ông T phải thanh toán lại cho bà Như 50% giá trị được chia theo quy định, là có căn cứ đúng pháp luật.
Từ những nhận định trên, căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, đình chỉ xét xử phúc thẩm một phần yêu cầu kháng cáo của bà N đối với căn hộ B, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà N đối với nhà, đất 229/3/8, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Các quyết định khác của Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 1139/2023/HNGĐ-ST ngày 26/6/2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh,
Thành phố Hồ Chí Minh không có kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét giải quyết.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm, nên bà N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28; Điều 35, Điều 39; Điều 147; Điều 148; Điều 227; Điều 228; khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 33; Điều 56; Điều 57; Điều 59; Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 26; Điều 27; Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.
- Đình chỉ xét xử phúc thẩm một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn - bà Lê Phương Quỳnh N về việc chia căn hộ mã số B4-03 dự án Chung cư Vũng Tàu Gold Sea-172 Hoàng Hoa Thám, Phường 02, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn - bà Lê Phương Quỳnh N.
- Giữ nguyên Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 1139/2023/HNGĐ-ST ngày 26/6/2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh:
- 3.1. Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn - bà Lê Phương Quỳnh N:
- 3.1.1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn của bà Lê Phương Quỳnh N và ông Lê Minh T.
- 3.1.2. Về con chung: Giao cho bà Lê Phương Quỳnh N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con chung tên: Lê Gia Phương N2, sinh ngày 24/7/2016 và Lê Gia Minh Q, sinh ngày 02/10/2020.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Hàng tháng ông T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con số tiền: 02 x 2.500.000 đồng = 5.000.000 đồng. Bắt đầu thi hành từ tháng 7 năm 2023. Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh
- 3.1. Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn - bà Lê Phương Quỳnh N:
Ông Lê Minh T được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Vì quyền lợi của con khi cần thiết ông Lê Minh T và bà Lê Phương Quỳnh N được quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc tiền cấp dưỡng nuôi con.
Kể từ khi bà Lê Phương Quỳnh N có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Lê Minh T chưa thực hiện việc cấp dưỡng nêu trên thì hàng tháng Lê Minh T còn phải trả lãi cho bà Lê Phương Quỳnh N theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả.
- 3.1.3. Về tài sản chung:
- Đối với nhà đất tại số B L, Phường G, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 113051, số vào sổ cấp GCN: CH00262 ngày 23/8/2010 cập ngày ngày 04/4/2019 được cấp cho ông Lê Minh T và bà Lê Phương Quỳnh N tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận B, Thành phố Hồ Chí Minh có trị giá 4.230.344.000 đồng là tài sản chung của ông T bà N trong thời kỳ hôn nhân.
- Phần bà N, ông T được hưởng ½ trị giá nhà đất là 4.230.344.000 đồng: 2 = 2.115.172.000 đồng.
- Đối với căn hộ mã số B4-03 dự án Chung cư V H, Phường B, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo Văn bản chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở được Công chứng ngày 28/02/2019 số 290 quyển số 01 tại Phòng C tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có trị giá 2.050.000.000 đồng.
- Phần bà N được nhận 7/10 trên giá trị tài sản chung 2.050.000.000 đồng là 1.435.000.000 đồng. Phần ông T được nhận 03/10 phần giá trị tài sản chung 2.050.000.000 đồng là 615.000.000 đồng
- Không chấp nhận yêu cầu của bà N công nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại nhà đất tại số B L, Phường G, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 113051, số vào sổ cấp GCN: CH00262 ngày 23/8/2010 cập ngày ngày 04/4/2019 được cấp cho ông Lê Minh T và bà Lê Phương Quỳnh N tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận B, Thành phố Hồ Chí Minh và căn hộ mã số B4-03 dự án Chung cư V Gold S H, Phường B, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo Văn bản chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở được Công chứng ngày 28/02/2019 số 290 quyển số 01 tại Phòng C tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu là sở hữu riêng của bà.
- Bà N được ưu tiên nhận căn hộ căn hộ mã số B4-03 dự án Chung cư V - A H, Phường B, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo Văn bản chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở được Công chứng ngày 28/02/2019 số 290 quyển số 01 tại Phòng C tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và bà sẽ thanh toán cho ông T số tiền ông T được chia 03 phần trên 2.050.000.000 đồng là 615.000.000 đồng ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật và các khoản phí còn lại chưa thanh toán cho Công ty Cổ phần T1.
Ngay khi bà N thanh toán đủ cho ông T số tiền trên thì bà N được quyền sở hữu căn hộ này. Công ty Cổ phần T1 có nghĩa vụ hoàn tất các thủ tục đứng tên sở hữu đối với căn hộ trên của bà N khi bà N hoàn tất các nghĩa vụ tài chính còn lại theo qui định đối với công ty.
- Ông T được nhận nhà đất tại số B L, Phường G, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 113051, số vào sổ cấp GCN: CH00262 ngày 23/8/2010 cập ngày ngày 04/4/2019 được cấp cho ông Lê Minh T và bà Lê Phương Quỳnh N tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận B, Thành phố Hồ Chí Minh và phải thanh toán cho bà N số tiền của bà N được chia ½ trị giá nhà đất là 4.230.344.000 đồng: 2 = 2.115.172.000 đồng, ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Ngay khi ông T thanh toán đủ cho bà N số tiền trên thì ông T được quyền sở hữu nhà đất này. Ông T được quyền liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để cập nhật quyền sử dụng đất ở quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo qui định.
- Đối với 01 xe ô tô con, nhãn hiệu Ford, màu trắng, biển số đăng ký: 51H-020.58 theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 456159 ngày 02/4/2019 tại Công an Thành phố H do bà Lê Phương Quỳnh N đứng tên, số máy: YMWQAC53727, số khung: XMAWAKC53727 là tài sản chung của bà N, ông T trong thời kỳ hôn nhân. Bà N, ông T mỗi bên được nhận ½ trị giá xe là 800.000.000 đồng : 2 = 400.000.000 đồng.
- Ông T được nhận ô tô này và thanh toán tiền cho bà N 400.000.000 đồng ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Ngay khi ông T thanh toán đủ cho bà N số tiền 400.000.000 đồng thì ông T được quyền sở hữu xe ô tô trên và bà N phải làm thủ tục công chứng để ông T thực hiện quyền sở hữu theo qui định, nếu bà Như k thực hiện thủ tục công chứng thì ông T được quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để tiến hành đăng ký quyền sở hữu xe ô tô trên theo qui định pháp luật.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện về việc chia tài sản chung là Quán C1, có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 4108034674 ngày 07/8/2017 tại địa chỉ: A N, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, do ông Lê Minh T đứng tên đại diện hộ kinh doanh, trị giá 150.000.000 đồng, phần ông T được hưởng là ½ x 150.000.000 đồng = 75.000.000 đồng.
- Về thời hạn thi hành: Thi hành ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án mà người có nghĩa vụ chưa thi hành thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền theo mức lãi suất được quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- 3.2. Về án phí:
- 3.2.1. Án phí dân sự sơ thẩm:
- Số tiền án phí bà N còn phải nộp là 84.804.440 đồng.
- Số tiền án phí ông T phải nộp là 89.903.440 đồng.
- Ông T được nhận lại án phí 1.875.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2021/0049962 ngày 14/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- 3.2.2. Án phí dân sự phúc thẩm:
Bà Lê Phương Quỳnh N phải chịu 300.000 đồng, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2023/0028172 ngày 18/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Lê Phương Quỳnh N đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
- 3.2.1. Án phí dân sự sơ thẩm:
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
| Đặng Thị Bích Loan | Phan Trịnh Minh Đức | Quách Thanh Bình |
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Quách Thanh Bình |
12
13
Bản án số 02/2024/HNGĐ-PT ngày 08/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về ly hôn
- Số bản án: 02/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 08/01/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NGUYÊN ĐƠN LÊ PHƯƠNG QUỲNH N, BỊ ĐƠN LÊ MINH T TRANH CHẤP VỀ TÀI SẢN LY HÔN.
