TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 02/2024/DS-ST Ngày 08-01-2024 V/v tranh chấp kiện đòi quyền sử dụng đất; công nhận quyền sử dụng đất và huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Trần Minh Phương |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Đỗ Trọng Tuấn |
| Bà Nguyễn Thị Mai Vinh |
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quyên – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 80/2023/TLST-DS ngày 07 tháng 7 năm 2023 về tranh chấp kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất; công nhận quyền sử dụng đất và huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 145/2023/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 180/2023/QÐST-DS ngày 26 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Ông Hoàng Văn B, sinh năm 1930; nơi cư trú: Thôn B (trước là thôn D), xã G, huyện V, thành phố Hải Phòng; có mặt;
- Ông Hoàng Văn T, sinh năm 1971; nơi cư trú: Thôn B (trước là thôn D), xã G, huyện V, thành phố Hải Phòng; có mặt;
Người đại diện theo uỷ quyền của ông Hoàng Văn T: Bà Trịnh Thị L, sinh năm 1979; nơi cư trú: Thôn B (trước là thôn D), xã G, huyện V, thành phố Hải Phòng (theo Giấy uỷ quyền ngày 16/11/2023); có mặt;
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Hoàng Văn T: Bà Nguyễn Thị Hồng T1, sinh năm 1983 và bà Đoàn Thị H, sinh năm 1984 – đều là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H (Quyết định về việc cử Trợ giúp viên pháp lý tham gia tố tụng số 658/QĐ-TTTGPL ngày 24/11/2023 của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H); đều có mặt;
- Bị đơn: Ông Hoàng Văn T2, sinh năm 1973; nơi cư trú: Thôn B (trước là thôn D), xã G, huyện V, thành phố Hải Phòng; có mặt;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Hoàng Văn K, sinh năm 1958; nơi cư trú: Cụm D, xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng; có mặt;
- Ông Hoàng Văn N, sinh năm 1961; nơi cư trú: Số E Lô B, Khu tập thể L, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng; có mặt;
- Ông Hoàng Văn N1, sinh năm 1962; nơi cư trú: Thôn B, xã G, huyện V, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (đề nghị xét xử vắng mặt);
- Ông Hoàng Văn L1, sinh năm 1964; nơi cư trú: Thôn B, xã G, huyện V, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (đề nghị xét xử vắng mặt);
- Ông Hoàng Văn T3, sinh năm 1968; nơi cư trú: Thôn B, xã G, huyện V, thành phố Hải Phòng; có mặt;
- Bà Trịnh Thị L, sinh năm 1979; nơi cư trú: Thôn B, xã G, huyện V, thành phố Hải Phòng; có mặt;
- Bà Nguyễn Thị T4, sinh năm 1974; nơi cư trú: Thôn B, xã G, huyện V, thành phố Hải Phòng; có mặt;
- Anh Hoàng Đức T5, sinh năm 2005;
- Anh Hoàng Khánh D, sinh năm 2007;
Cùng nơi cư trú: Thôn D (nay là thôn B), xã G, huyện V, thành phố Hải Phòng; đều vắng mặt (đề nghị xét xử vắng mặt);
- Ủy ban nhân dân huyện V; địa chỉ trụ sở: Số H đường B, thị trấn V, huyện V, thành phố Hải Phòng;
Người đại diện theo pháp luật của Ủy ban nhân dân huyện V, thành phố Hải Phòng: Ông Nguyễn Đức C – Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện V, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
Người đại diện theo uỷ quyền của Ủy ban nhân dân huyện V: Bà Nguyễn Thị Ngọc D1 – Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện V (Văn bản uỷ quyền số 22/VB-UQ ngày 28/7/2023); vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Trong đơn khởi kiện nộp ngày 01 tháng 6 năm 2023; Đơn khởi kiện bổ sung ngày 05/7/2023; Bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là ông Hoàng Văn B, ông Hoàng Văn T; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan – bà Trịnh Thị L; anh Hoàng Đức T5, anh Hoàng Khánh D thống nhất trình bày:
Ông Hoàng Văn B và vợ là bà Trần Thị K1 (đã chết năm 2007) sinh được 07 người con chung bao gồm: Ông Hoàng Văn K, ông Hoàng Văn N, ông Hoàng Văn N1, ông Hoàng Văn L1, ông Hoàng Văn T3, ông Hoàng Văn T và ông Hoàng Văn T2, hiện đều đã trưởng thành và lập gia đình riêng. Ông B, bà K1 tạo lập được khối tài sản chung gồm nhà, đất, bao gồm: Thửa đất số 718, tờ bản đồ số 14, diện tích 340m²; địa chỉ: Thôn B, xã G, huyện V, thành phố Hải Phòng. Thửa đất này hiện ông B đang quản lý, sử dụng. Thửa đất số 719, 720 tờ bản đồ số 14; diện tích 372m²; địa chỉ: Thôn D (nay là thôn B), xã G, huyện V, thành phố Hải Phòng, hiện vợ chồng anh T đang quản lý, sử dụng nhưng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lại đứng tên ông Hoàng Văn T2. Các con của ông B, bà K1 đều được bố mẹ tạo điều kiện lập nghiệp, sinh sống ở nơi khác; chỉ có ông T và ông T2 lấy vợ, sinh sống tại địa phương. Khi ông T2 lấy vợ, vợ chồng ông B cho diện tích đất 160m², thửa số 727 nằm cùng Giấy chứng nhận được cấp với thửa đất số 718, tờ bản đồ số 14 (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện V cấp ngày 02/5/1996 đứng tên ông B). Còn ông T bị khiếm thính, thiệt thòi hơn những người con khác nên vợ chồng ông B quan tâm hơn, sắp xếp cho ở gần để có điều kiện bảo ban, giúp đỡ. Do đó, ông B đã cho ông T diện tích đất 372m², thửa đất số 719, 720 tờ bản đồ số 14, nằm liền kề thửa đất số 718, tờ bản đồ số 14 hiện ông B đang quản lý, sinh sống. Việc này được tất cả các thành viên trong gia đình đồng ý. Nguồn gốc diện tích đất này là của vợ chồng ông Bao mua lại của em ruột là ông Hoàng Minh T6, vợ là bà Nguyễn Thị T7 từ năm 1984. Khi vợ chồng ông B cho ông T sang sinh sống tại thửa đất số 719, 720, tờ bản đồ số 14 thì chưa viết giấy tờ tặng cho. Ý định của vợ chồng ông B trước khi chết sẽ di chúc lại sau. Năm 2007, bà K1 chết không để lại di chúc, nhà đất vẫn do ông B, ông T quản lý, sử dụng. Ông B ở thửa đất số 718, tờ bản đồ số 14 còn ông T ở thửa đất số 719, 720, tờ bản đồ số 14. Từ khi sinh sống trên thửa đất số 719, 720, tờ bản đồ số 14 cho đến nay, ông T đã hai lần làm nhà trên thửa đất vào năm 1994, năm 2016, ông B biết nhưng không có ý kiến gì vì có ý định sau này bàn bạc với con trai cả cho ông T diện tích đất 719, 720, tờ bản đồ số 14 còn thửa 718, tờ bản đồ số 14 để thờ cúng chung.
Ngoài ra, ông T, bà L còn trình bày: Ông T, bà L kết hôn năm 2004 có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban xã G. Sau khi kết hôn bà L về chung sống với ông T trên diện tích đất 372m², thửa đất số 719, 720, tờ bản đồ số 14 từ đó cho đến nay. Ông T, bà L có hai con chung là Hoàng Đức T5, sinh năm 2005 và Hoàng Khánh D, sinh năm 2007, cùng sinh sống với vợ chồng ông T. Trước khi kết hôn với bà L, ông T có một con riêng với vợ thứ nhất (bà Nguyễn Thị N2) là chị Hoàng Thị Hồng N3, sinh năm 2001. Tuy nhiên, khi chị N3 được 07 tháng tuổi thì bà N2 đã bỏ đi nên vợ chồng bà L nuôi chị N3. Đến năm 2015, chị N3 đã đi lấy chồng, không còn sinh sống trên thửa đất này. Hiện cả hai con chung của ông T, bà L và chị N3 không đóng góp gì vào tài sản xây dựng trên đất.
Trên thực tế, ông T sinh sống tại thửa đất số 719, 720, tờ bản đồ số 14 thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước 130m² diện tích đất ở, 158m² diện tích đất vườn, 84m² diện tích đất ao. Giấy tờ lưu trữ tại Ủy ban nhân dân xã G như Sổ mục kê, Bản đồ địa chính đều đứng tên ông Hoàng Văn T. Nhưng do nhầm lẫn nên Ủy ban nhân dân xã G và Ủy ban nhân dân huyện V đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số E 0500959 ngày 01/5/1996, diện tích 372m², thửa số 719, 720, tờ bản đồ số 14 đứng tên ông Hoàng Văn T2. Do ông T cho ông T2 mượn Giấy chứng nhận này để thế chấp vay vốn của ngân hàng K2, thấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên mình nên ông T2 đã giữ lại và đến năm 2021 thì tranh chấp với ông T thửa đất số 719, 720 tờ bản đồ số 14.
Khi ông T2 căn cứ vào giấy chứng nhận này để đòi thửa đất số 719, 720, tờ bản đồ số 14 hiện ông T đang quản lý, sử dụng, ông B và những người con khác trong gia đình rất ngạc nhiên. Ông B đã 06 lần tổ chức họp gia đình để hoà giải, giải quyết tranh chấp giữa ông T và ông T2 nhưng không có kết quả. Nay ông B và ông T khởi kiện, đề nghị Toà án giải quyết: Buộc ông Hoàng Văn T2 phải trả lại ông B thửa đất số 719, số 720, tờ bản đồ số 14, diện tích 372m²; địa chỉ: Thôn D (nay là thôn B), xã G, huyện V. Công nhận thửa đất số 719, 720, tờ bản đồ số 14, diện tích 372m²; địa chỉ: Thôn D (nay là thôn B), xã G, huyện V là của ông Hoàng Văn T. Huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số E 0500959 ngày 01/5/1996 do Ủy ban nhân dân huyện V cấp đứng tên ông Hoàng Văn T2.
Tại văn bản nhận ngày 18/7/2023, Biên bản lấy lời khai ngày 12/10/2023, bị đơn – ông Hoàng Văn T2; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Nguyễn Thị T4 thống nhất trình bày:
Bố mẹ đẻ của ông T2 là ông Hoàng Văn B và bà Trần Thị K1 (chết năm 2007) sinh được 07 người con đúng như nguyên đơn trình bày.
Ông T2 và bà T4 kết hôn năm 1994, đến cuối năm 1994 ông Hoàng Văn B là bố đẻ cho hai vợ chồng ông T2 ra ở riêng. Sau khi kết hôn, vợ chồng ông T2 được ông B cho ở riêng trên thửa đất số 718, tờ bản đồ số 14 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1996 đứng tên ông Hoàng Văn B. Thời điểm này vợ chồng ông T2 ở cùng với bà nội của ông T2 là cụ Nguyễn Thị G. Khi đó ông T chưa lấy vợ nên ở cùng bố mẹ đẻ là ông B và bà K1 tại thửa đất số 719, 720, tờ bản đồ số 14 (thửa đất hiện các bên đang tranh chấp). Nguồn gốc thửa đất số 719, 720, tờ bản đồ số 14 là do ông B, bà K1 mua của ông chú là Hoàng Minh T6, mua thời điểm nào thì vợ chồng ông T2 không nắm được. Đến năm 2002 thì vợ chồng ông T2 xin ông B diện tích đất ao 160m², thửa số 727, tờ bản đồ số 14 nằm trong tổng diện tích đất 500m² ông B đã được cấp giấy chứng nhận năm 1996 (bao gồm thửa đất số 718, tờ bản đồ số 14, diện tích đất ở, đất vườn là 340m² và thửa số 727, diện tích đất ao là 160m²) để làm quán bán hàng. Đến năm 2009, vợ chồng ông T2 lấp toàn bộ diện tích đất ao, xây nhà ở 2,5 tầng và về đây sinh sống cho đến nay. Còn thửa đất số 718, tờ bản đồ số 14 mà trước đó vợ chồng ông T2 ở cùng cụ G thì do cụ G đã mất nên vợ chồng ông T2 đã mời ông B về sinh sống, trông nom nhà cửa. Kể từ khi vợ chồng ông T2 làm nhà ở trên thửa đất số 727, tờ bản đồ số 14 thì ông B về sinh sống trên thửa đất số 718, tờ bản đồ số 14.
Năm 1996, ông B làm giấy chứng nhận thửa đất số 719, 720 đứng tên ông Hoàng Văn T2 (là thửa đất hiện vợ chồng ông T đang sinh sống) rồi đưa cho vợ chồng ông T2 giữ. Vợ chồng ông T2 có thắc mắc thì ông B nói sau này hai anh em trao đổi cho nhau.
Quá trình sinh sống tại thửa đất số 718, tờ bản đồ số 14, vợ chồng ông T2 đã sửa chữa ngôi nhà cũ; xây bếp, nhà dưới; làm sân bê tông, xây tường bao, xây bể nước, giếng khoan, nhà tắm, trồng cây cối. Hiện ông B đã phá hết. Tổng số tiền vợ chồng ông T2 bỏ ra để sửa chữa khoảng 20.000.000 đồng vào năm 1997-1998.
Quá trình sinh sống trên thửa đất số 719, 720, tờ bản đồ số 14, khoảng năm 2016-2017, vợ chồng anh T phá nhà 03 gian cũ, xây nhà hai gian mái bằng trên diện tích đất 372m². Vợ chồng ông T2 có biết nhưng nghĩ rằng ông B sẽ cho vợ chồng ông T2 diện tích đất 500m² đứng tên ông B tại thửa số 718, số 727, tờ bản đồ số 14 nên diện tích đất 372m² đứng tên giấy chứng nhận Hoàng Văn T2 sẽ chuyển lại cho ông T. Tuy nhiên, cho đến nay ông B không đồng ý cho ông T2 diện tích đất 500m² nên ông T2 có quan điểm nhận đúng diện tích đất 372m², thửa số 719, 720, tờ bản đồ số 14 đứng tên ông T2 tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Thửa đất số 719, 720, tờ bản đồ số 14 đã được Ủy ban nhân dân huyện V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông T2 nên là của ông T2. Còn thửa đất số 727, tờ bản đồ số 14 hiện vợ chồng ông T2 đã xây nhà ở (thửa đất này là một trong hai thửa đất đã được Ủy ban nhân dân huyện V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông B), nếu ông B cho vợ chồng ông T2 thì ông T2 nhận, nếu ông B bán thì vợ chồng ông T2 mua, còn nếu đòi lại đất thì vợ chồng ông T2 yêu cầu phải trả lại cho vợ chồng ông T2 giá trị tài sản trên thửa đất số 727, tờ bản đồ số 14; giá trị đã đầu tư xây và sửa chữa tài sản trên thửa đất số 718, tờ bản đồ số 14.
Tại văn bản ngày 18/8/2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Hoàng Văn K, ông Hoàng Văn N, ông Hoàng Văn N1, ông Hoàng Văn L1, ông Hoàng Văn T3 thống nhất trình bày:
Bố mẹ đẻ của các ông K, N, N1, L1, T3 là ông Hoàng Văn B và bà Trần Thị K1 (chết năm 2007) sinh được 07 người con đúng như nguyên đơn trình bày. Thời gian vừa qua trong gia đình các ông xảy ra việc ông Hoàng Văn T2 là em út trong gia đình có mượn của ông Hoàng Văn T là con thứ sáu trong gia đình Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và căn cước công dân để vay vốn làm ăn đã khá lâu. Đến năm 2021, ông T đòi lại thì ông T2 nói Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là của ông T2 vì đã mang tên ông T2. Chúng tôi là anh em trong nhà chưa được nhìn thấy giấy chứng nhận này. Qua hành động của ông T2, anh em trong gia đình chúng tôi rất bất bình với các hành xử của ông T2. Gia đình chúng tôi đã 06 lần tổ chức họp gia đình để giải quyết nhưng không có kết quả vì ông T2 không hợp tác. Các ông xác nhận thửa đất số 719, số 720, tờ bản đồ số 14 đã được Uỷ ban nhân dân huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông T2 nhưng thực chất các thửa đất này là của ông B cho ông T với những lý do: Các thửa đất nêu trên tổng diện tích là 372m² có nguồn gốc là của ông Bao mua của vợ chồng em ruột là ông Hoàng Minh T6 và bà Nguyễn Thị T7 vào năm 1984 (là diện tích đất liền kề với thửa đất số 718, tờ bản đồ số 14 ông B đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Trên đất có căn nhà cấp 4 vừa lợp ngói móc, vừa lợp rạ. Do nhà đông anh em trai nên một số anh em xây dựng gia đình trước khi ra ở riêng có ở tạm tại đó. Cụ thể ông K là người ở đầu tiên ở, đến năm 1990 thì ông K đi ở nơi khác. Kế tiếp là ông T3 ở đến năm 1991 đi ở chỗ khác. Ông B cho ông T thửa đất số 719, 720, tờ bản đồ số 14 có xây 02 gian quán trên thửa đất này để ông T làm nghề cắt may vì bị khiếm thính (do thửa đất nằm cạnh đường nên thuận tiện cho việc cắt may). Ông B, bà K1 đã tuyên bố cho ông T được quyền sử dụng diện tích đất 372m² cũng như các tài sản trên đất trước sự chứng kiến của các anh em trong gia đình và tất cả không ai có ý kiến gì. Do căn nhà cấp 4 xuống cấp, dột nát nên năm 1994, ông T đã xây lại nhà cũng là nhà cấp 4 mái ngói mũi. Sau 22 năm do căn nhà cấp 4 này xuống cấp nên năm 2016, ông T xây lại nhà mới. Trong quá trình ông T làm nhà từ năm 1994 đến năm 2016 không ai có ý kiến phản đối gì. Diện tích đất ông T đang quản lý, sử dụng khi lập trích đo, làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; sổ mục kê của xã G đều mang tên ông Hoàng Văn T. Tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông B, phía Tây ghi giáp ranh với ông T. Biên lai thu tiền thuế khi nhà nước còn thu thuế đều mang tên ông T. Các ông khẳng định, ông Hoàng Văn T đã quản lý, sử dụng thửa đất từ sau khi ông K, ông T3 có chỗ ở mới. Còn đối với ông Hoàng Văn T2 đã được ông B cho diện tích đất ao thửa số 727, tờ bản đồ số 14 – là một trong hai thửa đất được ghi trong cùng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp đứng tên ông Hoàng Văn B. Vợ chồng ông T đã sinh sống lâu dài, làm nhà trên diện tích đất đó mà không ai trong gia đình có ý kiến phản đối, thắc mắc. Nay nguyên đơn khởi kiện, các ông K, N, N1, L1, T3 nhất trí với lời trình bày và quan điểm của nguyên đơn và đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Công nhận thửa đất số 719, 720 tờ bản đồ số 14, diện tích 372m²; địa chỉ: Thôn B, xã G là của ông B cho ông Hoàng Văn T; Huỷ giấy chứng nhận đã cấp cho ông T2 và cấp lại giấy chứng nhận cho ông T được quyền sử dụng thửa đất số 719, 720, tờ bản đồ số 14.
Tại văn bản ngày 16/11/2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – anh Hoàng Đức T5, anh Hoàng Khánh D thống nhất trình bày:
Anh T5 và anh D là con đẻ của ông T, bà L. Các anh không có đóng góp gì vào tài sản trên diện tích 372m², thửa số 719, 720, tờ bản đồ số 14. Các anh nhất trí với lời trình bày và quan điểm của ông T, bà L, đồng thời đề nghị Toà án giải quyết vụ án vắng mặt các anh.
Tại văn bản ngày 09/8/2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – Ủy ban nhân dân huyện V, thành phố Hải Phòng trình bày:
Theo Sổ mục kê lưu trữ tại Ủy ban nhân dân xã G thì ông Hoàng Văn T đứng tên chủ sử dụng thửa số 719, tờ bản đồ số 14; Hoàng Thị L2 là vợ của ông T đứng tên thửa số 720, tờ bản đồ số 14. Theo Sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thể hiện ông Hoàng Văn T2 được Ủy ban nhân dân huyện V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1996, diện tích 372m², thuộc thửa đất số 719, 720, tờ bản đồ giải thửa số 14, số vào sổ cấp giấy chứng nhận 1019. Hiện tại, không tìm thấy hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Hoàng Văn T2 do thất lạc. Quan điểm của Phòng T8 - Ủy ban nhân dân huyện V đối với yêu cầu huỷ giấy chứng nhận của nguyên đơn: Năm 1996, Uỷ ban xã G căn cứ vào việc sử dụng đất ổn định, đất đã được đăng ký của người dân, thực hiện việc hoàn thiện hồ sơ trình Uỷ ban nhân dân huyện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Hoàng Văn T2 theo đề xuất của Uỷ ban xã G là đảm bảo theo quy định của Luật Đất đai nên không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bổ sung yêu cầu khởi kiện và lời trình bày, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trình bày: Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ có cơ sở để xác định ông T là người sinh sống trên thửa đất số 719, 720, tờ bản đồ số 14 từ trước cho đến nay và đã nhiều lần xây sửa nhà nhưng không ai phản đối. Nguồn gốc thửa đất là của ông Bao mua của vợ chồng em trai là ông T6. Ông B xác nhận cho ông T. Vợ chồng ông T2 đã xây dựng nhà ở, sinh sống ổn định trên thửa đất số 727, tờ bản đồ số 14. Do vậy, đề nghị Toà án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Bị đơn – ông T2 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà T4 giữ nguyên lời trình bày, quan điểm và không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ông B là người làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 719, 720, tờ bản đồ số 14 đứng tên ông T2. Nay giấy chứng nhận này đứng tên ông T2 thì ông T2 được quyền sử dụng thửa đất 719, 720, tờ bản đồ số 14.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông K, ông N, ông T3, bà L2 nhất trí với yêu cầu khởi kiện, quan điểm của nguyên đơn và giữ nguyên lời trình bày, đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự cơ bản đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Riêng ông T2, bà T4, tại phiên toà đã được Chủ toạ phiên toà nhắc nhở nhưng vẫn có thái độ không đúng mực tại phiên toà.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ lời trình bày của các đương sự, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thì yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng:
[1] Quan hệ tranh chấp của vụ án là kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất; công nhận quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quy định tại khoản 2 Điều 26, khoản 4 Điều 34 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 32 của Luật Tố tụng Hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Về thời hiệu khởi kiện:
[2] Về thời hiệu khởi kiện: Quan hệ tranh chấp về kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất không áp dụng thời hiệu khởi kiện nên nguyên đơn có quyền khởi kiện – khoản 2 Điều 155 của Bộ luật Dân sự.
- Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[3] Ông Hoàng Minh T6, bà Nguyễn Thị T7 cho biết: Ông T6 là em trai của ông Hoàng Văn B. Thửa đất số 719, 720, tờ bản đồ số 14; địa chỉ: Thôn B, xã G, huyện V có nguồn gốc là của bố mẹ đẻ ông là cụ Hoàng Văn C1 và cụ Nguyễn Thị G để lại cho ông T6. Đến năm 1984, ông T6 được Hợp tác xã phân cho diện tích đất khoảng 700m² cùng địa chỉ tại thôn B xã G (hiện gia đình ông T6 đang quản lý, sử dụng) nên ông T6 đã chuyển nhượng cho ông B hai thửa đất trên. Khi chuyển nhượng hai bên có viết giấy tay “Giấy biên nhận bán nhà và đất ở ngày 20/10/1984”. Chữ viết tại Giấy biên nhận bán nhà và đất ở ngày 20/10/1984 là do ông T6 viết, còn chữ ký tại văn bản này đúng là chữ ký và chữ viết của ông T6 và vợ ông T6 là bà Nguyễn Thị T7. Ông T6 và ông B không có tranh chấp gì về việc chuyển nhượng thửa đất này. Hiện ông T đang quản lý, sử dụng thửa đất. Nay bố con ông B có tranh chấp thửa đất, ông T6, bà T7 mong các bên hoà giải với nhau để giữ tình cảm trong gia đình.
[4.1] Về nguồn gốc, diễn biến quá trình sử dụng thửa đất số 719, 720, tờ bản đồ số 14; địa chỉ: Thôn B (thôn D), xã G, huyện V, thành phố Hải Phòng: Theo hồ sơ quản lý đất đai tại địa phương bao gồm: Sổ mục kê năm 1995 và Bản đồ giải thửa năm 1995 (có duy nhất tài liệu này) thể hiện: Thửa đất số 719, tờ bản đồ số 14, diện tích đất thổ cư 284m² đứng tên ông T (con trai của ông B); thửa đất số 720, tờ bản đồ số 14, diện tích đất ao 89m² đứng tên L2 (là vợ thứ hai của ông T). Sổ mục kê năm 1995 là cơ sở, căn cứ để Uỷ ban xã G lập hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người dân trong xã. Năm 1996, Ủy ban nhân dân huyện V có chủ trương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người dân trong xã. Uỷ ban xã G có lập hồ sơ cấp giấy chứng nhận đứng tên ông Hoàng Văn T2 được quyền sử dụng diện tích đất 372m² (trong đó 130m² đất ở, 158m² đất vườn tại thửa số 719); 84m² đất ao tại thửa số 720. Diện tích đất thổ cư và diện tích đất ao giữa số mục kê và bản đồ giải thửa có sự chênh lệch một vài m², tuy nhiên vị trí các thửa đất là đúng. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông T2, nhưng thực tế vợ chồng ông T mới là người sinh sống tại 02 thửa đất số 719, 720, tờ bản đồ số 14 và là người đứng tên tại Sổ mục kê và Bản đồ giải thửa năm 1995. Theo Uỷ ban xã G thì việc cấp Giấy chứng nhận đứng tên ông T2 là không đúng với tên người đã đăng ký sử dụng đất tại Sổ mục kê và Bản đồ giải thửa năm 1995 vì có sự nhầm lẫn.
[4.2] Đối với diện tích đất ông Hoàng Văn B đang quản lý, sử dụng: Theo hồ sơ quản lý đất đai tại địa phương bao gồm Sổ mục kê năm 1995 và Bản đồ giải thửa năm 1995 thể hiện: Ông B đứng tên các thửa đất sau: Thửa đất số 718, tờ bản đồ số 14, diện tích đất ở 130m², diện tích đất vườn 210m²; thửa đất số 727, tờ bản đồ số 14, diện tích đất ao 160m². Trên thực tế, ông B đang quản lý, sử dụng thửa đất số 718, tờ bản đồ số 14; còn vợ chồng ông Hoàng Văn T2 đã san lấp ao, xây dựng nhà ở và sinh sống trên thửa đất số 727, tờ bản đồ số 14. Các thửa đất này đều đứng tên ông B tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện V cấp ngày 02/5/1996. Hiện tại, thửa đất số 727, tờ bản đồ số 14 chưa được cơ quan có thẩm quyền tách cấp giấy chứng nhận riêng cho vợ chồng ông T2. Đối với các thửa đất đứng tên ông B có chênh lệch một vài m² giữa Sổ mục kê và Bản đồ giải thửa, tuy nhiên vị trí các thửa đất là đúng.
[4.3] Đối với tranh chấp này, Uỷ ban xã G đã hoà giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Việc cấp giấy chứng nhận căn cứ vào hồ sơ quản lý đất đai tại địa phương là Sổ mục kê và Bản đồ giải thửa lập năm 1995. Đề nghị Toà án căn cứ vào các tài liệu này để đánh giá việc cấp giấy chứng nhận đứng tên ông Hoàng Văn T2 là đúng hay sai.
[5] Về sao hồ sơ cấp giấy chứng nhận: Tại Công văn số 147/UBND-TN&MT ngày 08/02/2023 của Ủy ban nhân dân huyện V cho biết: Hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Hoàng Văn T2 lưu trữ tại Văn phòng đăng ký đất đai – Chi nhánh huyện V và Ủy ban nhân dân xã G hiện không tìm thấy do thất lạc. Theo Danh mục hồ sơ sao lục do Văn phòng đăng ký đất đai – Chi nhánh huyện V ngày 02/11/2023 cung cấp thì: Hồ sơ cấp giấy chứng nhận của ông Hoàng Văn T2, địa chỉ: Thôn B, xã G, huyện V tại Văn phòng đăng ký đất đai Chi nhánh huyện V với các danh mục: Trang sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất xã G. Trang Sổ mục kê thuộc quyển sổ mục kê xã G. Phần bản đồ thuộc tờ bản đồ số 14, bản đồ giải thửa xã G.
[6] Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và kết quả định giá tài sản:
[6.1] Diện tích của thửa đất số 719, số 720, tờ bản đồ số 14, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: 372m²(trong đó 130m² diện tích đất ở, 158m² diện tích đất vườn và 84m² diện tích đất ao); diện tích đất hiện trạng: 386,3m². Trị giá đất: 20.000.000 đồng/m².
[6.2] Về tài sản trên đất: Nhà mái bằng, 01 tầng, diện tích 77,28m², trị giá: 442.120.735 đồng. Công trình phụ xây năm 2016; Nhà kho; Lán tôn phía trước nhà, xây dựng năm 2016; Lán tôn bên cạnh nhà chính, xây dựng năm 2016; Cổng xây dựng năm 2002; Tường bao xây dựng năm 2022, tường bao xây dựng năm 2012; Bê tông sân, lối đi xây năm 2016; tổng giá trị tài sản trên đất: 592.262.415 đồng. Cây cối, trị giá: 610.000 đồng.
[7] Từ những nội dung trên, Hội đồng xét xử sơ thẩm thấy rằng: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời trình bày của các đương sự xác định được: Ông B và bà K1 (chết năm 2007) sinh được 07 người con. Nguồn gốc diện tích đất 372m², thửa đất số 719, số 720, tờ bản đồ số 14 là của ông B, bà K1 nhận chuyển nhượng lại của vợ chồng em trai là ông Hoàng Minh T6 và bà Nguyễn Thị T7. Ông B và các con chung của ông B và bà K1 đều xác định ông B cho ông Hoàng Văn T thửa đất số 719, số 720, tờ bản đồ số 14. Trên thực tế ông Hoàng Văn T sinh sống quản lý, sử dụng thửa đất từ năm 1991 cho đến nay. Quá trình vợ chồng ông T ở đã hai lần sửa chữa và xây nhà nhưng ông B và các anh em trong gia đình không ai có ý kiến phản đối. Ông T còn đứng tên đăng ký sử dụng thửa đất 719, tờ bản đồ số 14 tại Sổ mục kê và Bản đồ giải thửa từ năm 1995; bà L2 vợ ông T đứng tên thửa đất số 720, tờ bản đồ số 14. Bản thân vợ chồng ông T2, bà T4 xác nhận chưa bao giờ sinh sống trên thửa đất số 719, 720, tờ bản đồ số 14. Họ chỉ ở trên thửa đất số 718, tờ bản đồ số 14 cùng bà nội của ông T2 từ sau khi lấy nhau đến năm 2002 thì vợ chồng ông T2 được ông B cho 160m² diện tích đất ao tại thửa đất 727, tờ bản đồ 14 (là một trong hai thửa đất số 718 và số 727, cùng tờ bản đồ số 14 ông Hoàng Văn B đã được Ủy ban nhân dân huyện V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Vợ chồng ông T2 đã san lấp đất, xây dựng nhà và sinh sống trên thửa đất số 727, tờ bản đồ số 14 từ năm 2002 cho đến nay. Như vậy, thực tế sử dụng các thửa đất của ông T và ông T2 phù hợp với lời trình bày của ông B, ông T, ông T2, bà T4 và các con chung của ông B và bà K1. Ông B và 06 người con chung của ông B và bà K1 đều xác nhận ông B, bà K1 đã cho ông T thửa đất số 719, 720, tờ bản đồ số 14; cho ông T2 thửa đất số 727, tờ bản đồ số 14. Hiện tại, không tìm thấy hồ sơ đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông T2 đối với thửa đất số 719, 720 tờ bản đồ số 14 nên không có cơ sở để xác định thửa đất số 719, 720, tờ bản đồ số 14 được cấp đứng tên ông T2 dựa trên cơ sở pháp lý nào. Ủy ban nhân dân huyện V đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số E 0500959 ngày 01/5/1996 đứng tên ông Hoàng Văn T2 được quyền sử dụng diện tích đất 372m², tại thửa đất số 719, 720, tờ bản đồ số 14; địa chỉ: Thôn D ( nay là thôn B), xã G, huyện V, thành phố Hải Phòng là không phù hợp với tên người đăng ký sử dụng đất tại Sổ mục kê, Bản đồ giải thửa năm 1995 và không đúng với lời trình bày của ông B (là người đã mua thửa đất); không đúng với ý chí của người được quyền sử dụng hợp pháp thửa đất là ông B; không phù hợp với lời trình bày của 06 người con của ông B (bao gồm các ông K, N, N1, L1, T3, ông T) và thực tế sử dụng đất của ông T và ông T2. Do đó, có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số E 0500959 ngày 01/5/1996. Do ông B xác nhận đã cho ông T thửa đất số 719, 720, tờ bản đồ số 14 từ năm 1994 nên có cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc đòi lại thửa đất số 719, 720, tờ bản đồ số 14 và công nhận ông Hoàng Văn T được quyền sử dụng thửa đất số 719, 720, tờ bản đồ số 14 - các Điều 158, 163, 164, 166 của Bộ luật Dân sự; các Điều 100, 101, 166 của Luật Đất đai năm 2013; Điều 50, 51 của Luật Đất đai năm 2003.
[8] Về án phí dân sự sơ thẩm:
[8.1] Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm - Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.
[8.2] Bị đơn ông Hoàng Văn T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch – Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.
[8.3] Các đương sự khác trong vụ án không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
[9] Về chi phí định giá tài sản, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Nguyên đơn tự nguyện nộp, đã nộp đủ nên không đặt vấn đề giải quyết - Điều 164, Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 158, 163, 164, 166 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ vào các Điều 50, 51 của Luật Đất đai năm 2003; các Điều 100, 101, 166 của Luật Đất đai năm 2013;
Căn cứ vào Điều 147, Điều 164, Điều 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – ông Hoàng Văn B và ông Hoàng Văn T.
- Buộc ông Hoàng Văn T2, bà Nguyễn Thị T4 phải trả lại cho ông Hoàng Văn B diện tích đất 372m², tại thửa đất số 719, 720, tờ bản đồ số 14; địa chỉ: Thôn D (nay là thôn B), xã G, huyện V, thành phố Hải Phòng.
- Công nhận ông Hoàng Văn T được quyền sử dụng thửa đất số 719, thửa số 720, tờ bản đồ số 14; địa chỉ: Thôn D (nay là thôn B), xã G, huyện V, thành phố Hải Phòng.
- Huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số E 0500959 do Ủy ban nhân dân huyện V cấp ngày 01/5/1996 đứng tên ông Hoàng Văn T2 được quyền sử dụng diện tích đất 372m², trong đó thửa số 719, tờ bản đồ số 14, diện tích đất ở 130m², diện tích đất vườn 158m²; thửa số 720, diện tích đất ao 84m²; địa chỉ: Thôn D (nay là thôn B) xã G, huyện V, thành phố Hải Phòng.
- Ông Hoàng Văn T có nghĩa vụ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa số 719, số 720, tờ bản đồ số 14; địa chỉ: Thôn D (nay là thôn B) xã G, huyện V, thành phố Hải Phòng theo quy định của pháp luật.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Hoàng Văn B và ông Hoàng Văn T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
- Ông Hoàng Văn T2 phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Các đương sự khác trong vụ án không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
- Về chi phí định giá tài sản, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Nguyên đơn tự nguyện chịu, đã nộp đủ nên không đặt vấn đề giải quyết.
Trong thời hạn 15 ngày (Mười lăm ngày), kể từ ngày tuyên án, các đương sự có mặt đều có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Trong thời hạn 15 ngày (Mười lăm ngày), kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết các đương sự vắng mặt đều có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
12
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Minh Phương |
13
Bản án số 02/2024/DS-ST ngày 08/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp kiện đòi quyền sử dụng đất; công nhận quyền sử dụng đất và huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Số bản án: 02/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp kiện đòi quyền sử dụng đất; công nhận quyền sử dụng đất và huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/01/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn B - Hoàng Văn T
