Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU PHÚ

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2024/HS-ST

Ngày: 08 tháng 01 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Quốc Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trương Thị Thu Thủy

Ông Nguyễn Hoàng Tuấn

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên tòa:

Ông Huỳnh Thanh Thuận - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 73/2023/TLST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 76/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 12 năm 2023 đối với:

  1. Bị cáo: Nguyễn Thiện N, sinh ngày 30 tháng 01 năm 2001 tại huyện C, tỉnh An Giang; Nơi cư trú: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Đạo phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thiện H và bà Lê Thị N1; Anh em ruột có 03 người bị cáo là người thứ nhất; Tiền án: Ngày 27/9/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Phú xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 01/9/2023; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 11/7/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Phú xử phạt 02 năm 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 25/4/2019 nhưng tại thời điểm bị kết án bị cáo dưới 18 tuổi nên được coi là không có án tích. Ngày 24/7/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Châu Phú ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 16 tháng, chấp hành xong ngày 09/8/2020; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 31/10/2023 đến nay, tại Trại tạm giam Công an tỉnh A. Bị cáo có mặt tại phên tòa.

  2. Bị hại: Ông Huỳnh Thanh L, sinh năm 1996. Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang. Vắng mặt.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Hồ Nhựt L1, sinh năm 1976. Địa chỉ: Số B, tổ F, khóm C, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang. Vắng mặt.

  4. Những người làm chứng:

    1. Ông Bùi Văn V, sinh năm 1961. Địa chỉ: Tổ B, ấp C, xã C, huyện C, tỉnh An Giang. Vắng mặt.

    2. Ông Phạm Đức L2, sinh năm 1967. Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thiện N sinh 2001, nơi cư trú: ấp M, xã M, huyện C, là người từng bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích, lại nảy sinh ý định đi tìm tài sản của người khác lấy trộm để cầm lấy tiền chơi game.

Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 17/10/2023, N đi bộ đến khu vực ấp M, xã M, huyện C thì phát hiện nhà của Huỳnh Thanh L không khóa cửa, quan sát thấy những người bên trong nhà đã ngủ, N mở cửa hàng rào đi vào bên trong nhà thấy xe mô tô biển số 67C1-052.98, có gắn sẵn chìa khoá trên xe, nên N dẫn xe mô tô ra đường nhựa rồi nổ máy điều khiển xe đến tiệm game bắn cá “Linh Loan” do Hồ Nhựt L1 làm chủ, thuộc khóm C, phường V, thành phố C, cầm được 1.300.000 đồng, số tiền này N sử dụng vào việc chơi game bắn cá thua hết. Đến ngày 31/10/2023, N đến Công an xã M đầu thú. Ngày 09/11/2023, N bị khởi tố, điều tra.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Nguyễn Thiện N khai nhận hành vi phạm tội phù hợp nội dung vụ án và lời khai của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng; kết luận định giá tài sản; các tài liệu và chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Bị hại Huỳnh Thanh L trình bày: Xe mô tô biển số 67C1-052.98 do anh mua vào tháng 12/2022, nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Hiện L đã nhận lại xe, không yêu cầu bồi thường và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Hồ Nhựt L1 trình bày: L1 không biết xe mô tô biển số 67C1-052.98 của N cầm là tài sản do phạm tội mà có. L1 đã tự nguyện giao nộp lại cho cơ quan Công an và không yêu cầu N phải bồi thường lại số tiền 1.300.000 đồng.

Tại Kết luận định giá tài sản số 41/KL.HĐĐGTS ngày 02/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, kết luận: 01 (một) xe mô tô biển số 67C1-052.98 nhãn hiệu DAEMACO đã qua sử dụng, trị giá 1.500.000 đồng (một triệu, năm trăm nghìn đồng).

Việc thu giữ, xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C thu giữ: 01 xe mô tô biển số 67C1-052.98, số khung: PL8WCHEHY91003279, số máy: VLF1D52FMH390503279, màu đỏ- xám; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 67C1-052.98 tên Bùi Văn V. (Đã trao trả cho Huỳnh Thanh L theo biên bản ngày 05/11/2023).

Tại bản Cáo trạng số: 05/CT-VKS.CP ngày 15 tháng 12 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Thiện N về tội “Trộm cắp tài sản”, theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

Bị cáo Nguyễn Thiện N đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu trên. Bị cáo không tranh luận, nói lời nói sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng: Vắng mặt

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú luận tội đối với bị cáo: Giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử như sau:

  • - Về hình phạt chính:

  • + Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thiện Nhân t 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

  • - Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung.

  • - Về xử lý vật chứng: Đã xử lý theo quy định nên không đề nghị xem xét.

  • - Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu xử lý nên không xem xét.

  • - Về quyền kháng cáo, án phí giải quyết theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về thủ tục tố tụng:

    • Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

    • Tại phiên tòa bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại gì đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

  2. [2] Về nội dung vụ án:

    1. [2.1] Xét đối với hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thiện N:

      Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thiện N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận của các bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, những người có quyền, nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do phạm tội gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận:

      Nguyễn Thiện N đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích. Ngày 17/10/2023, lại tiếp tục có hành vi lấy trộm 01 xe mô tô biển số 67C1-052.98 trị giá là 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) của Huỳnh Thanh L.

      Bị cáo Nguyễn Thiện N là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo đã lợi dụng lúc đêm khuya đã lén lút vào nhà của bị hại lấy xe mô tô trị giá 1.500.000đ. Bản thân bị cáo trước đó đã phạm tội trộm cắp tài sản bị Tòa án xét xử 03 năm tù chưa được xóa án tích nhưng lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tái sản. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thiện N đã xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác, đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

    2. [2.2] Xét tình tiết tăng năng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

      Về tình tiết tăng nặng: Không có tình tiết tăng nặng.

      Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo đầu thú, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt và có con nhỏ sinh năm 2019 cần phải chăm sóc, nuôi dưỡng (vợ chết), nên được xem xét là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    3. [2.3] Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân:

      Mặc dù trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt không lớn nhưng nhân thân bị cáo có nhiều vi phạm pháp luật, trong đó có hành vi trộm cắp tài sản nhiều lần. Do đó, bị cáo đã có nhận thức sâu sắc về việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện, thể hiện sự xem thường pháp luật của bị cáo. Tuy nhiên, trong vụ án này bị hại đã lờ là, không khóa cửa là điều kiện để bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của bị hại.

    4. [2.4] Căn cứ vào các quy định pháp luật, các yếu tố nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi của bị cáo. HĐXX xét thấy cần phải xử phạt bị cáo hình phạt tù, cách ly ra khỏi xã hội trong một thời gian để đảm bảo tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo và đảm bảo sự khoan hồng của pháp luật.

    5. [2.5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không nghề nghiệp ổn định, hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

    6. [2.6] Về xử lý vật chứng vụ án: Đã được xử lý đúng quy định nên không xem xét.

    7. [2.7] Về trách nhiệm dân sự: HĐXX xét thấy, tài sản đã trả lại cho bị hại, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ai yêu cầu xử lý trách nhiệm dân sự nên HĐXX không xem xét.

    8. [2.8] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Thiện N phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thiện N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thiện N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính kể từ ngày 31/10/2023.

    Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  2. Về xử lý vật chứng vụ án: Đã được xử lý đúng quy định nên không xem xét.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ai yêu cầu xử lý trách nhiệm dân sự nên HĐXX không xem xét.

  4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

    Bị cáo Nguyễn Thiện N bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày; đối với người có mặt tính kể từ ngày tuyên án, đối với người vắng mặt tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, bị hại, người có quyền nghĩa vụ liên quan;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh An Giang;
  • - Công an H.Châu Phú;
  • - VKSND H.Châu Phú;
  • - TAND T.An Giang;
  • - Sở Tư pháp T.An Giang;
  • - Chi cục THADS H.Châu Phú;
  • - Lưu HS – VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quốc Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2024/HS-ST ngày 08/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 02/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ản án hình sụ sơ thẩm Nguyễn Thiện Nhân phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger