|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA-TP HÀ NỘI Bản án số: 02/2024/KDTM -ST Ngày 06 tháng 9 năm 2024 (V/v: Tranh chấp Hợp đồng mua bán hàng hóa) |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thanh Minh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hạ Tuấn và bà Nguyễn Thị Vân
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Khuyến - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 01/2024/TLST- KDTM ngày 23 tháng 4 năm 2024 về Tranh chấp Hợp đồng mua bán hàng hoá theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2024/QĐXXST- KDTM ngày 24 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 02/2024/QĐHPT- KDTM ngày 20 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Vũ Văn T – sinh năm: 1980
Địa chỉ: thôn N, xã H, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc
Đại diện theo ủy quyền của ông T: bà Bùi Thu H – sinh năm: 1994 (Có mặt)
Địa chỉ: chung cư T, số A, Lê Quang Đ, M, N, TP .
- Bị đơn: Công ty TNHH Xuất nhập khẩu Helima
HKTT: thôn B, xã L, huyện Ứ, TP .
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Minh S – Giám đốc
Đại diện theo ủy quyền của công ty TNHH X: Ông Ngô Văn T1 – Phó giám đốc (Có mặt)
Địa chỉ: thôn B, xã L, huyện Ứ, TP .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại Đơn khởi kiện, bản tự khai cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án - đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Theo yêu cầu đặt hàng của Công ty X, H1 kinh doanh ông Vũ Văn T đã giao hàng hóa là bột keo dùng làm hương nhang tại kho hàng của Công ty X và xuất hóa đơn theo giá trị các bên đã xác nhận. Tổng giá trị hàng hóa mà H1 kinh doanh ông Vũ Văn T đã xuất hóa đơn cho Công ty X là: 1.737.700.000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ, bảy trăm ba mươi bảy triệu, bảy trăm nghìn đồng). Cụ thể như sau:
- - Hóa đơn bán hàng số 00000003 ngày 15/03/2023: 214.700.000 đồng
- - Hóa đơn bán hàng số 00000005 ngày 27/03/2023: 215.600.000 đồng
- - Hóa đơn bán hàng số 00000006 ngày 01/04/2023: 429.400.000 đồng
- - Hóa đơn bán hàng số 00000007 ngày 19/04/2023: 220.400.000 đồng
- - Hóa đơn bán hàng số 00000008 ngày 27/04/2023: 214.700.000 đồng
- - Hóa đơn bán hàng số 00000009 ngày 11/05/2023: 218.500.000 đồng
- - Hóa đơn bán hàng số 00000010 ngày 17/05/2023: 218.500.000 đồng
Ngoài ra, chi phí đặt mua hóa đơn từ Chi cục thuế là 3.277.000 đồng (Ba triệu, hai trăm bảy mươi bảy nghìn đồng)
Tổng giá trị Công ty X phải thanh toán cho H1 kinh doanh Vũ Văn T là: 1.740.977.000 đồng (1) (Bằng chữ: Một tỷ bảy trăm bốn mươi triệu, chín trăm bảy mươi bảy nghìn đồng).
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, H1 kinh doanh ông Vũ Văn T đã thực hiện nghĩa vụ giao hành hóa đúng số lượng và chất lượng theo yêu cầu của Công ty X. Tuy nhiên, Công ty X chỉ hợp tác thanh toán cho H1 kinh doanh ông Vũ Văn T một phần công nợ, tổng số tiền đã thanh toán là: 1.272.080.000 đồng (2) (Bằng chữ: Một tỷ, hai trăm bảy mươi hai nghìn, không trăm tám mươi triệu đồng), bao gồm:
- - Ngày 21/03/2023 Công ty X thanh toán số tiền là: 180.000.000 đồng
- - Ngày 04/04/2023 Công ty X thanh toán số tiền là: 250.000.000 đồng
- - Ngày 17/04/2023 Công ty X thanh toán số tiền là: 150.000.000 đồng
- - Ngày 28/04/2023 Công ty X thanh toán số tiền là: 50.000.000 đồng
- - Ngày 05/05/2023 Công ty X thanh toán số tiền là:150.000.000 đồng
- - Ngày 12/05/2023 Công ty X thanh toán số tiền là: 70.000.000 đồng
- - Ngày 17/05/2023 Công ty X thanh toán số tiền là: 100.000.000 đồng
- - Ngày 27/05/2023 Công ty X thanh toán số tiền là: 70.000.000 đồng
- - Ngày 02/06/2023 Công ty X thanh toán số tiền là: 70.000.000 đồng
- - Ngày 20/07/2023 Công ty X thanh toán số tiền là: 100.000.000 đồng
Trong đó có 82.080.000 đồng tiền cước vận chuyển
Ngày 10/11/2023, Công ty X và H1 kinh doanh Vũ Văn T đã tiến hành đối chiếu công nợ. Theo đó, Công ty X còn phải thanh toán cho H1 kinh doanh Vũ Văn T số tiền là (1) – (2) = 468.879.000 đồng (Bốn trăm sáu mươi tám triệu, tám trăm bảy mươi chín nghìn đồng).
Sau khi ký biên bản đối chiếu công nợ, H1 kinh doanh ông Vũ Văn T đã đôn đốc, tạo điều kiện cho Công ty X thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Tuy nhiên, Công ty X vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ nêu trên.
Mặc dù Hộ kinh doanh Vũ Văn T đã nhiều lần đề nghị Công ty X phải thanh toán số tiền còn nợ nhưng Công ty X không hợp tác thanh toán.
Do đó, để đảm bảo quyền lợp hợp pháp của mình, hộ kinh doanh Vũ Văn T yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau đây:
- - Buộc Công ty X phải thanh toán cho H1 kinh doanh Vũ Văn T toàn bộ số tiền nợ gốc là: 468.897.000 đồng (Bằng chữ: Bốn trăm sáu mươi tám triệu, tám trăm chín mươi bảy nghìn đồng) (1)
- - Buộc Công ty X phải thanh toán cho H1 kinh doanh Vũ Văn Thanh khoản tiền lãi do chậm thanh toán tạm tính từ ngày 11/11/2023 đến ngày 24/7/2024 theo lãi xuất 10%/năm là: 468.897.000 đồng x 258 ngày x (10%/365) = 33.143.952 đồng (2)
Tổng số tiền nợ gốc và tiền lãi do chậm thanh toán tính đến thời điểm ngày 24/7/2024 công ty X còn phải thanh toán cho H1 kinh doanh Vũ Văn T là: 502.040.952 đồng.
Đề nghị Toà án tiếp tục tính lãi do chậm thanh toán theo lãi suất 10%/năm đến khi công ty X thanh toán hết toàn bộ số tiền phải thanh toán.
Án phí: bị đơn phải chịu toàn bộ án phí theo quy định
Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hoà giải, đại diện theo uỷ quyền của công ty X ông Ngô Văn T1 trình bày:
ông thừa nhận công ty TNHH X có nợ ông Vũ Văn T như đại diện theo ủy quyền của ông T trình bày là đúng với số tiền gốc là 468.897.000 đồng. Lý do công ty X không thanh toán trả cho ông Vũ Văn T là vì ông T đã có những hành vi, lời nói làm ảnh hưởng tới danh dự, uy tín của công ty X. Công ty chỉ đồng ý trả nợ khi ông T đền bù thiệt hại về danh dự tín cho công ty X theo yêu cầu bồi thường. Tuy nhiên, do ông T không thực hiện việc đền bù về danh dự, uy tín cho công ty X nên công ty không trả nợ cho ông T tại thời điểm hiện tại.
Nay ông T khởi kiện công ty X ra Tòa, trên tinh thần thiện chí giải quyết thì ông T1 có quan điểm: đồng ý trả nợ theo phương án: Trả nợ ông T số tiền nợ gốc 468.897.000 đồng trong thời gian 04 năm, chia đều cho hàng tháng, trả nợ vào ngày 05 hàng tháng. Không đồng ý trả lãi như đại diện theo ủy quyền của ông T trình bày vì Trong quá trình làm ăn hai bên không có thỏa thuận về lãi. Ông chỉ đồng ý trả tiền lãi nếu pháp luật quy định trong trường hợp không thỏa thuận về lãi mà vẫn phải chịu lãi theo quy định của pháp luật.
- - Án phí: đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa: Đại diện nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện là: Rút yêu cầu lãi suất chậm thanh toán là 10%/năm. Đề nghị tính lãi suất chậm thanh toán là 8.8%/năm kể từ ngày 11/11/2023 cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ.
Đại diện theo uỷ quyền của bị đơn: giữ nguyên quan điểm trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đầy đủ các quy định về tố tụng dân sự như tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự, tạo điều kiện cho họ được trình bày quan điểm, tiến hành hòa giải theo đúng quy định. Hội đồng tiến hành xét xử vụ án đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào quy định của pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Vũ Văn T, Buộc bị đơn là công ty TNHH X phải trả cho ông Vũ Văn T số tiền hàng còn lại là: 468.897.000 đồng. Buộc Công ty TNHH X phải chịu lãi suất theo yêu cầu của nguyên đơn là 8.8%/năm tính từ ngày vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Về án phí: Công ty TNHH X phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá quy định tại khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Hộ kinh doanh ông Vũ Văn T đã khởi kiện đã làm đơn theo đúng mẫu, nộp tạm ứng án phí theo quy định của pháp luật nên Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án tống đạt các văn bản tố tụng và tạo điều kiện cho các bên trình bày, hoà giải theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[2] Xét về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy, việc mua bán hàng hoá giữa Hộ kinh doanh ông Vũ Văn T và công ty TNHH X là có thật, trên cơ sở tự nguyện và hợp pháp của các bên. Căn cứ vào các hoá đơn bán hàng, phiếu chuyển khoản, công văn thống nhất thanh toán số 2CVHEL/HD ngày 10/11/2023 của Công ty TNHH X; lời khai của đại diện nguyên đơn và đại diện bị đơn đều phù hợp và thống nhất với nhau, đều xác nhận hiện tại Công ty TNHH X còn nợ ông Vũ Văn T số tiền là hàng là 468.897.000 đồng nên đây là tình tiết không phải chứng minh quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Do đó, đối với yêu cầu buộc Công ty TNHH X phải thanh toán trả ông Vũ Văn T số tiền hàng là 468.897.000 đồng là có căn cứ.
[3] Xét yêu cầu tính lãi chậm thanh toán: Đại diện nguyên đơn yêu cầu Công ty TNHH X phải chịu lãi suất 10%/năm đối với khoản tiền chưa thanh toán. Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xin rút lãi suất chậm thanh toán là 10%/năm. Đề nghị tính lãi chậm thanh toán là 8.8%/năm kể từ ngày 11/11/2023 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ. Tạm tính đến ngày 06/9/2024 công ty X còn phải thanh toán cho H1 kinh doanh Vũ Văn T là: 34.027.791 đồng và tiếp tục tính lãi cho đến khi thanh toán xong các khoản phải thanh toán. Đại diện bị đơn không đồng ý thanh toán lãi do các bên không thoả thuận về việc chịu lãi. Trường hợp pháp luật quy định không thoả thuận về lãi mà vẫn phải chịu lãi thì đồng ý trả lãi theo quy định. Hội đồng xét xử nhận thấy: theo quy định tại khoản 3 Điều 440 Bộ luật Dân sự quy định Trường hợp bên mua không thực hiện đúng nghĩa vụ trả tiền thì phải trả lãi trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự. Như vậy, nguyên đơn yêu cầu lãi suất chậm trả là 8.8%/năm là phù hợp với quy định tại Điều 357; 468 Bộ luật Dân sự.
Số tiền lãi chậm thanh toán tính đến ngày xét xử là: 468.897.000 đồng x 301 ngày x 8.8%/365 ngày = 34.027.791 đồng.
Bị đơn tiếp tục phải chịu lãi chậm thanh toán với lãi suất là 8.8%/năm cho đến khi thanh toán xong toàn bộ các khoản phải thanh toán.
[4] Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định là: 20.000.000 đồng + (502.924.791 đồng – 400.000.000 đồng)x4% = 24,116,992 đồng;
Hoàn trả ông Vũ Văn T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 11.681.120 đồng.
[5]. Quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; 271; 273; Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ các 430, 440, 357, 466; 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy bản thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Vũ Văn T với bị đơn Công ty TNHH Xuất nhập khẩu Helima
1. Buộc công ty TNHH Xuất nhập khẩu Helima phải thanh toán trả ông Vũ Văn T số tiền hàng là: 468.897.000 đồng và tiền lãi phát sinh đến ngày 06/9/2024 là: 34.027.791 đồng. Tổng số tiền gốc và lãi là: 502.924.791 đồng (Năm trăm linh hai triệu, chín trăm hai mươi tư nghìn, bảy trăm chín mươi mốt đồng.)
2. Về lãi suất: kể từ ngày 07/9/2024, Công ty TNHH X tiếp tục phải chịu lãi suất 8.8%/năm trên dư nợ gốc chưa thanh toán cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
3. Về án phí: Công ty TNHH X phải chịu số tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 24,116,992 đồng (Hai mươi bốn triệu, một trăm mười sáu nghìn, chín trăm chín mươi hai đồng.)
Hoàn trả nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 11.681.120 đồng (đã nộp tại biên lai số 0011690 ngày 22/4/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ứng Hòa, Tp ..
4. Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thanh Minh |
Bản án số 02/2024/KDTM -ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Số bản án: 02/2024/KDTM -ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng mua bán hàng hóa
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Văn T
